- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "HỤI NG - D"
- Tòa quyết gì? Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về Họ, hụi, biêu, phường;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 379/2025/DS-ST Ngày: 17-12-2025 V/v tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo;
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bành Quốc Trung;
2. Ông Nguyễn Văn Trương;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Huỳnh Đức Lập - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 422/2025/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 627/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 484/2025/QĐST-DS ngày 01 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm 1968.
Địa chỉ: ấp L, xã T, tỉnh Đồng Tháp. (Xin vắng mặt)
2/ Bị đơn: Bà Lê Thị D, sinh năm 1967;
Địa chỉ: ấp L, xã T, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình tố tụng nguyên đơn Nguyễn Thị Thúy N trình bày:
Bà và bà D quen biết qua làm ăn chơi hụi. Bà D chơi hụi do bà làm thảo, hốt hụi xong bà D không đóng tiền hụi chết cho bà nên bà phải chàng hụi cho đến mãn hụi. Dây hụi hiện đã mãn. Vào ngày 04/11/2022 hai bên chốt nợ, bà D có làm giấy thiếu tiền bà số tiền là 115.000.000 đồng (là tiền hụi), do chốt nợ xong nên giấy tờ hụi đã thất lạc; chị D hứa trả từ từ cho bà nhưng từ năm 2022 đến nay bà D chỉ trả cho bà được 7.000.000 đồng. Bà có đến nhà bà D nhiều lần yêu cầu trả tiền nhưng bà D hứa mà không thực hiện. Nay bà D còn nợ bà số tiền là 108.000.000 đồng nhưng khi hoà giải viên hoà giải thì chị D có đến toà án, nhận nợ số tiền là 87.000.000 đồng và xin bà trả mỗi tháng 1.000.000 đồng, bà không đồng ý. Nay bà yêu cầu bà D trả bà số tiền 87.000.000 đồng theo nhận nợ của chị D, không yêu cầu tính lãi. Thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
* Bà Lê Thị D là bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng mặc dù toà án đã triệu tập hợp lệ, không có ý kiến trình bày.
* Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp tại phiên tòa như sau:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú tại xã T, tỉnh Đồng Tháp nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hoà giải đối thoại tại toà án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp.
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn để tranh chấp tiền nợ hụi. Căn cứ vào các Điều 471 Bộ luật Dân sự nên quan hệ pháp luật là tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”.
. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà N xin vắng mặt. Bị đơn bà D vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trên.
. Về nội dung vụ án: Bà N khởi kiện yêu cầu bà D phải có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền hụi còn nợ là 87.000.000 đồng. Thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật. Không yêu cầu tính lãi. Nguyên đơn có cung cấp một giấy thiếu tiền ngày 04/11/2022. Bị đơn vắng mặt không có ý kiến trình bày.
Mặc dù trong đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 108.000.000 đồng nhưng trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền 87.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự chấp nhận việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn.
Hội đồng xét xử nhận thấy giao dịch chơi hụi giữa các bên đương sự trong vụ án là có thật, thể hiện qua giấy thiếu tiền mà nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án. Trong giấy thiếu tiền thể hiện bà D có thiếu bà N số tiền là 115.000.000 đồng, tuy không thể hiện thiếu tiền gì nhưng nguyên đơn thừa nhận là tiền nợ hụi, bị đơn không có ý kiến phản đối.
Bị đơn là bà Lê Thị D đã được triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm nhưng bà vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến phản đối gì đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà N. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tài liệu, tình tiết, văn bản mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh. Như vậy bà D đã thừa nhận còn nợ và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xét thấy bà N là thảo hụi, theo quy định tại Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ thì nghĩa vụ của thảo hụi là nộp thay phần hụi của thành viên nếu đến kỳ mở hụi mà có thành viên không góp phần hụi nên việc bà N choàng hụi cho bà D là nghĩa vụ của bà N và bà N được quyền yêu cầu bà D trả lại phần tiền hụi đã choàng sau khi đã kết thúc dây hụi.
Xét thấy số tiền trên bà D nợ đã lâu, chốt nợ từ năm 2022, có ghi giấy thiếu tiền nhưng đến nay chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả tiền. Bà N đã nhiều lần yêu cầu bà D trả tiền nhưng đến nay bị đơn vẫn chưa thực hiện. Việc bị đơn vắng mặt nhằm kéo dài thời gian trả nợ gây thiệt thòi quyền lợi cho nguyên đơn nên cần buộc bị đơn trả khi án có hiệu lực pháp luật.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của bà N là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
. Về quyền kháng cáo của đương sự: Được thực hiện theo quy định tại các Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228, 238 Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hoà giải đối thoại tại toà án;
- Các Điều 468, 471 Bộ luật Dân sự;
- Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về Họ, hụi, biêu, phường;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy N.
Buộc bà Lê Thị D có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Thúy N số tiền là 87.000.000 đồng, thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu phần tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng thời gian chưa thi hành án.
2. Về án phí:
- Bà Lê Thị D phải chịu 4.350.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- H lại cho bà Nguyễn Thị Thúy N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.700.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004221 ngày 10 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
3. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm. Trường hợp đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh ĐT; - VKSND KV2; - THADS tỉnh Đồng Tháp; - Các đương sự; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Thảo |