vanban.org

Bản án 379/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng Nh về việc thay đổi người trực tiếp nuôi sau khi ly hôn.

Giao cho bà Nguyễn Thị Hồng Nh trực tiếp nuôi con tên Nguyễn Quang M, sinh ngày 15/9/2009. Giao cho ông Nguyễn Ngọc Q trực tiếp nuôi con tên Nguyễn Minh M, sinh ngày 11/9/2011. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "NGUYEN THI HONG NHIÊN- NGUYEN NGỌC QUANG"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng Nh về việc thay đổi người trực tiếp nuôi sau khi ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 379/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27/4/2023
V/v Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con
sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Giàu.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Lê Thị Kim Liễu

- Bà Lại Thị Đắc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 27/4/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1024/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng Nh, sinh năm 1984 (có mặt)

Địa chỉ: X/B Chánh Hưng, Phường Y, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh

Điạ chỉ liên hệ: 3X Tạ Quang Bửu, Phường Y, Quận Z, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1976 (có mặt)

Địa chỉ: X/B Chánh Hưng, Phường Y, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nguyên đơn trình bày:

Theo Bản án số 427/2021/HNGĐ-ST ngày 02/6/2021 của Toà án nhân dân Quận 8 giao hai con chung là Nguyễn Quang M sinh ngày 15/9/2009 và Nguyễn Minh M, sinh ngày 11/9/2011 cho ông Nguyễn Ngọc Q trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, bà Nh không cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên hiện nay ông Q không nuôi hai con như quyết định của Toà án mà hai trẻ M và M đang do bà Nh nuôi dưỡng. Nay bà Nh đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, giao hai con chung cho bà nuôi dưỡng, ông Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 10.000.000 đồng/hai con hoặc mỗi người nuôi một con, không bên nào cấp dưỡng cho bên nào. Bà Nh tự nguyện chịu án phí theo quy định pháp luật.

Bị đơn trình bày: Thống nhất như lời trình bày của nguyên đơn về việc ly hôn, nuôi con như quyết định của Toà án nhân dân Quận 8. Nay bà Nh đề nghị thay đổi người nuôi con bị đơn đồng ý giao hai con cho bà Nh nuôi dưỡng nhưng không có khả năng cấp dưỡng nuôi con vì đang thất nghiệp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu ý kiến: Tòa án nhân dân Quận 8 thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật. Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ pháp luật, không vi phạm Tố tụng. Yêu cầu của bà Nh có căn cứ theo quy định pháp luật, chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nh giao con Nguyễn Quang M cho mẹ nuôi dưỡng, giao con Nguyễn Minh M cho cha nuôi dưỡng. Không bên nào cấp dưỡng cho bên nào.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Xét đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng Nh, Hội đồng xét xử nhận thấy đây là vụ án hôn nhân và gia đình, bị đơn có nơi cư trú tại Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 8 theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Theo Bản án số 427/2021/HNGĐ-ST ngày 02/6/2021 của Toà án nhân dân Quận 8 đã có hiệu lực pháp luật quyết định giao trẻ Nguyễn Quang M, sinh ngày 15/9/2009 và Nguyễn Minh M, sinh ngày 11/9/2011 cho ông Nguyễn Ngọc Q trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Q đã không thực hiện nghĩa vụ nuôi con của mình theo bản án của Toà án nhân dân Quận 8. Từ khi bản án có hiệu lực đến nay trẻ Nguyễn Quang M, sinh ngày 15/9/2009 và Nguyễn Minh M, sinh ngày 11/9/2011 không sống chung với ông Q mà do bà Nh nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Xét nguyện vọng của các con thì trẻ Nguyễn Quang M có nguyện vọng theo mẹ. Nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường của trẻ về thể chất và tinh thần nên việc thay đổi người nuôi con là phù hợp với quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nh.

Theo Bản án số 427/2021/HNGĐ-ST ngày 02/6/2021 của Toà án nhân dân Quận 8 đã có hiệu lực pháp luật quyết định giao trẻ Nguyễn Quang M, sinh ngày 15/9/2009 và Nguyễn Minh M, sinh ngày 11/9/2011 cho ông Nguyễn Ngọc Q nuôi dưỡng, tuy nhiên trên thực tế thì hai trẻ lại chung sống với bà Nhiên. Nay ông Q giao hai con cho bà Nh nuôi dưỡng nhưng không đồng ý cấp dưỡng nuôi con. Trong quá trình giải quyết tại toà, trẻ Nguyễn Minh M, sinh ngày 11/9/2011 có nguyện vọng được chung sống cùng ông Q. Do đó Hội đồng xét xử cho rằng việc ông Q nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh M, sinh ngày 11/9/2011 là phù hợp nguyện vọng của trẻ, đảm bảo sự phát triển bình thường của trẻ, phù hợp với quy định tại điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Đối với việc cấp dưỡng cho con, việc ông Q và bà Nh mỗi người nuôi một con nên Hội đồng xét xử cho rằng các đương sự tự sắp xếp việc nuôi dưỡng con, không cấp dưỡng cho con là phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của ông Q và bà Nh, phù hợp với quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bà Nhiên tự nguyện chịu án phí theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự năm 2009 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014);

- Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng Nh về việc thay đổi người trực tiếp nuôi sau khi ly hôn.

Giao cho bà Nguyễn Thị Hồng Nh trực tiếp nuôi con tên Nguyễn Quang M, sinh ngày 15/9/2009.

Giao cho ông Nguyễn Ngọc Q trực tiếp nuôi con tên Nguyễn Minh M, sinh ngày 11/9/2011.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng cho con đối với ông Q và bà Nh cho đến khi bà Nh và ông Q có đơn yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng cho con.

2. Án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm bà Nhiên tự nguyện chịu là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0017534 ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Tp. Hồ Chí Minh. Bà Nh đã thi hành xong án phí.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ