vanban.org

Bản án 379/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/08/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn TT, buộc bà Dương Thị Yến L phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền nợ tính đến ngày 22/8/2019 là 42.311.286 đồng (bốn mươi hai triệu, ba trăm mười một nghìn, hai trăm tám mươi sáu đồ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 474 Bộ luật Dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 379/2019/DS-ST
Ngày: 22/8/2019
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Thu Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bích Vân

2. Ông Trần Nghiệp Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền, Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa: Ông

Trần Việt Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 225/2019/TLST-DS ngày 05 tháng 04 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2019/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa 40/2019/QĐST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn TT; địa chỉ: lầu 8, số 266-268

đường N, Phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh,;

Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Trường T, sinh năm 1994; địa chỉ:

lầu 8, số 266-268 đường N, Phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền theo giấy ủy quyền số 226/2019/UQ-TTT ngày 10/7/2019 (có đơn xin vắng mặt);

2. Bị đơn: Bà Dương Thị Yến L ; sinh năm: 1989; địa chỉ: số 16 lô H, chung

cư K, Phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 13/3/2019, các bản tự khai của nguyên đơn ông

Phạm Trường Thịnh là đại diện hợp pháp của nguyên đơn, trình bày:

Ngày 28/9/2011 Ngân hàng TMCP Sài Gòn TT có ký hợp đồng sử dụng

thẻ tín dụng (Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hơp đồng) với bà Dương Thị Yến L , hạn mức tín dụng là 10.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn là 2,15%/tháng.

Sau khi được cấp thẻ bà L đã thực hiện tổng giao dịch với số tiền là:

9.323.400 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ bà L đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 1.500.000 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà L vẫn không thanh toán cho Ngân hàng. Ngày 26/4/2012 Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Nay Ngân hàng TMCP Sài Gòn TT yêu cầu buộc bà Dương Thị Yến L phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán ngay cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín với tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 22/8/2019 là: 42.311.286 đồng (Bốn mươi hai triệu, ba trăm mười một nghìn, hai trăm tám mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là 10.917.486 đồng, lãi quá hạn tạm tính đến 22/8/2019 là 31.393.800 đồng. Bà Dương Thị Yến L phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 23/8/2019 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng đã ký kết. Ngoài các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 15/7/2019, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín không cung cấp thêm chứng cứ nào khác. * Đối với bị đơn bà Dương Thị Yến L: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Dương Thị Yến L không đến Tòa và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không có lý do. * Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng quy định pháp luật. Về nội dung: Hợp đồng ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp đồng vay tài sản do các bên tự nguyện thỏa thuận. Việc Dương Thị Yến L không thực hiện việc trả nợ đúng kỳ hạn là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc Dương Thị Yến L phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn TT với tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi là: 42.311.286 đồng (Bốn mươi hai triệu, ba trăm mười một nghìn, hai trăm tám mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là 10.917.486 đồng, lãi quá hạn tạm tính đến 22/8/2019 là 31.393.800 đồng. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có nhận định: [1] Về tố tụng: * Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:

Tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn TT và bà

Dương Thị Yến L là tranh chấp hợp đồng vay tài sản quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn là Dương Thị Yến L có nơi cư trú cuối cùng là Quận 11, nên căn cứ theo Điểm a, Khoản 1, Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11.

* Về người tham gia tố tụng: Đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng

mặt. Bị đơn Dương Thị Yến L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về yêu cầu nguyên đơn:

Về khoản nợ gốc: Căn cứ theo tài liệu, chứng cứ và lời khai của nguyên

đơn cung cấp: Ngày 28/9/2011 bà Dương Thị Yến L có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn TT hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng. Bà L đã thực hiện các giao dịch với tổng tiền là 9.323.400 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay Bà L đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1.500.000 đồng. Từ tháng ngày 25/3/2012 đến nay thì Bà L không thanh toán nữa. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng Bà L vẫn không có thiện chí trả nợ, do đó đây là Hợp đồng vay tài sản thông qua hình thức sử dụng thẻ tín dụng.

Hội đồng xét xử nhận thấy: bà L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2

của Bản Điều Khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 26/4/2012 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (theo Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Hội đồng xét xử căn cứ vào Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 1 Điều 474 Bộ Luật dân sự 2005 quy định: “ Bên vay tài sản là tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn” xét thấy việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc 10.917.486 đồng là có căn cứ nên chấp nhận.

Xét về lãi vay: Ngày 28/9/2011 bị đơn ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng

kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng và đồng ý mức lãi suất theo thông báo số 113/TBTT ngày 04/7/2011 về lãi suất thẻ tín dụng áp dụng là 2,15% của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín; Ngày 25/3/2012 bị đơn đã vi phạm lịch trả trả nợ căn cứ vào Điều 23 của Điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn TT ban hành đã quy định việc chuyển nợ quá hạn “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của Chủ thẻ cho đến kỳ phát hành Thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm hợp đồng….Khi sự kiện vi phạm xảy ra, Chủ thẻ hiểu và đồng ý rằng Đơn vị phát hành thẻ có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau:

- Chấm dứt quyền sử dụng thẻ và tiến hành việc thu hồi toàn bộ số nợ;

- Áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại) phù hợp với Điều 22 đối với toàn bộ Dư nợ theo quy định của Đơn vị phát hành thẻ…” ; Xét thấy việc thỏa thuận lãi suất vay phù hợp theo quy định tại Khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và đồng thời phù hợp với quy định tại Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14 tháng 4 năm 2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Do đó Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ngân hàng, buộc bà L thanh toán số tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc tính đến ngày 22/8/2019 là 31.393.800 đồng (theo bảng tính lãi ngày 22/8/2019) và thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 23/8/2019 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Dương Thị Yến L phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn TT số tiền với tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 22/8/2019 là: 42.311.286 đồng (Bốn mươi hai triệu, ba trăm mười một nghìn, hai trăm tám mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là 10.917.486 đồng, lãi quá hạn tạm tính đến 22/8/2019 là 31.393.800 đồng. [3] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, yêu cầu của Ngân hàng Cổ phần Sài Gòn TT được chấp nhận nên bị đơn bà Dương Thị Yến L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.115.564 đồng. Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 987.953 (chín trăm tám mươi bảy nghìn, chín trăm năm mươi ba) đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn TT theo biên lai số AG/2016/0009934 ngày 28/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. [4] Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 186, Khoản 2 Điều 227, Điều 228 Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 471, Điều 474 Bộ Luật dân sự 2005

- Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài

Gòn TT, buộc bà Dương Thị Yến L phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền nợ tính đến ngày 22/8/2019 là 42.311.286 đồng (bốn mươi hai triệu, ba trăm mười một nghìn, hai trăm tám mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là 10.917.486 đồng, lãi quá hạn tạm tính đến 22/8/2019 là 31.393.800 đồng.

Bà Dương Thị Yến L phải có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi tiếp tục phát sinh

kể từ ngày 23/8/2019 trên số dư nợ gốc cho đến khi thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 28/9/2011 được ký kết giữa bà Dương Thị Yến L và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn TT.

Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Dương Thị Yến L phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 2.115.564 đồng (hai

triệu một trăm một trăm mười lăm nghìn năm trăm sáu mươi bốn) đồng, nộp tại Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.

Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 987.953 (chín trăm tám mươi bảy

nghìn, chín trăm năm mươi ba) đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn TT theo biên lai số AG/2016/0009934 ngày 28/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo

trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ