- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Thị M P - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Thị M P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 379/2018/HS-ST Ngày: 20.11.2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Nga Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Đệ
Bà Nguyễn Quỳnh Thơ
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Xuân Giang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 358/2018/HSST ngày 18 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 377/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đoàn Thị M P- sinh năm: 1991; nơi ĐKHKTT: số A, phường B, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Vũ Văn B (đã chết) và bà Đoàn Thị T; Tiền án, tiền sự: không; Danh chỉ bản số 513 do Công an quận Đống Đa lập ngày 15.7.2018; bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 06.7.2018, cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 15.7.2018, hiện bị cáo đang bị tạm giam trong một vụ án khác. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Anh Hoàng C S, sinh năm 1992;
Hộ khẩu thường trú: đường A, phường B, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; Nơi cư trú: số A, Đại Kim, quận Hoàng Mai, Hà Nội- Vắng mặt và có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền để tiêu sài cá nhân nên Đoàn Thị M P có ý định chiếm đoạt tài sản của lái xe ôm Grab. Khoảng 17h ngày 03.7.2018, Phương đứng trước số 2 phố Khâm Thiên, phường Khâm Thiên, quận Đống Đa và gọi anh Hoàng C S đang chạy xe ôm Grab, Phương yêu cầu anh Sang chở đi vào ngõ Chợ Khâm Thiên, khi đi được 100m thì Phương hỏi mượn điện thoại của anh Sang để gọi, anh Sang đồng ý và đưa cho Phương 01 chiếc điện thoại Nokia 105 màu đen cùng sim số 0942881704. Do thấy giá trị của chiếc điện thoại này nhỏ và biết các anh xe ôm Grab có điện thoại giá trị lớn hơn nên Phương tiếp tục hỏi mượn điện thoại của anh Sang và nói để chụp ảnh bàn ghế. Do tin tưởng Phương nên anh Sang đã đưa cho Phương mượn 01 chiếc điện thoại Iphone 6S màu vàng cùng sim số 0938357682. Sau khi mượn được 02 chiếc điện thoại của anh Sang, Phương yêu cầu anh Sang chở vào ngõ 138 ngõ Chợ Khâm Thiên, mục đích đi vào ngõ sâu có đường thông sang ngõ khác để Phương tìm cơ hội bỏ trốn. Khi đi vào trong ngõ khoảng 50m trước nhà vệ sinh công cộng thì Phương bảo anh Sang dừng xe lại và đứng đợi. Phương cầm 02 chiếc điện thoại của anh Sang đi bộ một mình vào trong ngõ 138 rồi đi thông ra ngõ 7 Khâm Thiên, bắt xe ôm khác đi về nhà thuê trọ tại thôn Yên Ngưu, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Do điện thoại hết pin nên Đoàn Thị M P đã tháo sim điện thoại ở máy Nokia 105 của anh Sang lắp vào điện thoại của Phương để sử dụng rồi đưa 02 chiếc điện thoại cho bạn cùng phòng trọ là Chu Thị Phương (sinh năm: 1981; trú tại: Đội 1, Nho Lâm, xã Mai Động, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên) sạc và cất hộ. Anh Sang sau khi chờ không thấy Phương quay lại đã biết mình bị lừa nên đi về nhà để tìm cách liên lạc với Phương.
Đến ngày 05.7.2018, anh Sang liên lạc được đến số điện thoại 0942881704 và xin chuộc lại điện thoại thì được Phương hẹn đến khu vực Bệnh viện nội tiết, thuộc địa bàn xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội để chuộc điện thoại. Anh Sang đồng ý và đến công an phường Trung Phụng trình báo. Sau đó, anh Sang cùng công an phường Trung Phụng đến gặp Đoàn Thị M P và đưa Phương về phường Trung Phụng làm việc.
Tại cơ quan điều tra, Đoàn Thị M P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp cho 01 sim điện thoại số 0942881704. Đối với 02 chiếc điện thoại của anh Sang, Phương khai đã nhờ Chu Thị Phương cầm sạc hộ điện thoại, Chu Thị Phương không biết về nguồn gốc 02 chiếc điện thoại trên.
Ngày 06.7.2018, bà Đoàn Thị Tý (sinh năm: 1958, trú tại: số 5 ngõ 5 phường Trung Phụng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội) - mẹ của Đoàn Thị M P đã lên công an phường Trung Phụng giao nộp 01 chiếc điện thoại Iphone 6S màu vàng 16Gb cùng sim số 0938357682 và 01 chiếc điện thoại Nokia 105 màu đen. Bà Tý khai khoảng 14 giờ 30 phút ngày 06.7.2018, khi bà Tý đang ở nhà thì có Chu Thị Phương là bạn của con gái bà Tý đến đưa cho 02 chiếc điện thoại trên và bảo bà Tý cầm ra công an phường giao nộp. Bà Tý không biết nguồn gốc 02 chiếc điện thoại trên của Phương ở đâu mà có.
Tại bản Kết luận định giá số: 285/2018 ngày 11.7.2018 của Hội đồng định giá tài sản quận Đống Đa kết luận:
- Điện thoại Nokia 105 trị giá: 100.000 đồng
- Điện thoại Iphone 6S - Gold 16Gb trị giá: 4.000.000 đồng.
Tổng trị giá 02 điện thoại là: 4.100.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã thu hồi và trao trả tài sản cho bị hại là anh Hoàng C S: 01 chiếc điện thoại Nokia 105 màu đen; 01 điện thoại Iphone 6S Gold 16Gb cùng sim số 0938357682 và sim số: 0942881704. Anh Sang không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an quận Đống Đa áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Đoàn Thị M P. Đến ngày 12.9.2018, Đoàn Thị M P bị Công an quận Hoàng Mai khởi tố, tạm giam về hành vi Cướp giật tài sản.
Đối với Chu Thị Phương do không liên quan đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Đoàn Thị M P nên không có căn cứ xử lý.
Cáo trạng số 333/CT-VKSĐĐ ngày 05.10.2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố Đoàn Thị M P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên, sau khi phân tích đề nghị Hội đồng xét xử:
* Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đoàn Thị M P mức án từ 10 tháng đến 14 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã được bồi thường vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo Đoàn Thị M P đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đống Đa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về tội danh:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của lái xe ôm Grab là anh Hoàng C S 02 chiếc điện thoại di động Nokia 105 và điện thoại di động Iphone 6S Gold 16Gb, tổng trị giá 4.100.000 đồng. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo Đoàn Thị M P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật. [3] Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo lên kế hoạch tìm đến những người lái xe ôm Grab và lợi dụng lòng tin của họ nhằm chiếm đoạt tài sản kiếm sống của họ. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần xử lý nghiêm khắc nhằm cải tạo giáo dục bị cáo đồng thời giáo dục răn đe phòng ngừa chung. [4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và xét xử đã khai báo thành khẩn đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, khi được tại ngoại trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội khác thể hiện sự coi thường pháp luật vì vậy cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo. Hội đồng xét xử căn cứ vào hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo để quyết định hình phạt tương xứng.
Do bị cáo không có điều kiện về kinh tế nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. [5] Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại là anh Hoàng C S đã nhận lại tài sản do gia đình bị cáo giao nộp và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét. [6] Về án phí:
Bị cáo Đoàn Thị M P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và người bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Đoàn Thị M P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Xử phạt: Đoàn Thị M P 12 (Mười hai ) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 06.7.2018 đến ngày 15.7.2018).
* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ Bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Tòa án NDTP Hà Nội; - Viện kiểm sát NDTP Hà Nội; - Viện kiểm sát ND quận Đống Đa; - Công an quận Đống Đa; - Công an quận Hoàng Mai; - Chi cục THADS quận Đống Đa; - Trại tạm giam số 2; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Việt Nga ( Đã ký) |