vanban.org

Bản án 378/2021/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 08/11/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Minh Hoài N. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 75/2021/HS-ST ngày 15/3/2021 của Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Hoài N: Tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Minh Hoài N để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Hoài N - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Minh Hoài N. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 75/2021/HS-ST ngày 15/3/2021 của Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần quyết định hình phạt đối với bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 378/2021/HS-PT
Ngày: 08-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh

Các thẩm phán:

Ông Trần Xuân Minh

Ông Nguyễn Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Lê Quỳnh- Thư ký Tòa án Nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện viện kiểm sát Nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên Tòa: Ông Trần Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 229/2021/TLPT-HS ngày 22 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Minh Hoài N.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2020/HS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2021 của Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Minh Hoài N, sinh ngày 28/10/1988 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi đăng ký thường trú:, tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú trước khi bị bắt:, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: chạy xe ôm; Trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn S (chết) và bà Nguyễn Thị M; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị bắt tạm giam ngày 13/4/2020;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo:

1. Luật sư Phạm Minh T, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

2. Luật sư Võ Cát T, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh – Bào chữa chỉ định cho bị cáo. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 13/4/2020, tại trước nhà số, Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy – Bộ Công an, Công an quận Bình Thạnh, Công an quận Tân Phú, Công an Quận 8, Công an huyện Bình Chánh và Công an xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp phát hiện bắt quả tang bị cáo Nguyễn Minh Hoài N (bị cáo) có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Lực lượng công an đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và thu giữ của bị cáo một số vật chứng như sau (bl.41–43):

–01 (một) xe máy biển số 59P2 -681.40 do bị cáo điều khiển;

–01 túi xách màu đen để ở gác chân giữa xe máy biển số 59P2-681.40, bên trong túi xách có 2.997,72g Methamphetamine;

–01 điện thoại di động hiệu Oppo;

–01 điện thoại di động hiệu Mobell;

–01 điện thoại di động hiệu Nokia.

Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 13/4/2020, khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo tại nhà số C4/8 B12, Tổ 190, Ấp 4, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, lực lượng công an phát hiện thu giữ được 01 hộp sắt có đề chữ “Similac New Born”, để trong Phòng số 3 ở Lầu 1 của căn nhà, trong hộp sắt có (bl.49, 50):

–30,1718g Ketamine;

–30,2964g Methamphetamine;

–86,4664g MDMA.

–01 ổ khóa Việt Tiệp;

–01 cân điện tử;

–01 chùm chìa khóa có 02 chìa;

–01 khóa điện tử của xe máy mang biển số 59P2-681.40;

–01 xe mô-tô hiệu Yamaha EXCITER, biển kiểm soát 86B1 – 545.28.

Toàn bộ khối lượng ma túy thu giữ (nêu ở phần trên) đã được giám định và xác định theo Kết luận giám định số 636/KLGĐ-H ngày 22/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự – Công an thành phố Hồ Chí Minh (bl.80).

Trong quá trình điều tra, bị cáo khai nhận như sau (bl.187–191, 195–210):

Bị cáo hành nghề xe ôm. Trong thời gian chạy xe, đón và trả khách ở trước Chung cư Nguyễn Biểu, Phường 1, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo quen biết một người thanh niên (không rõ lai lịch). Người này đặt vấn đề thuê bị cáo vận chuyển ma túy mang đến khu vực quận Gò Vấp, quận Tân Bình giao cho một người khác (cũng không rõ lai lịch), bị cáo đồng ý. Từ đầu tháng 4/2020 cho đến khi bị bắt, bị cáo đã 04 lần vận chuyển ma túy cho người thanh niên đã nêu, cụ thể như sau:

– Lần thứ 1: Vào khoảng đầu tháng 4/2020, bị cáo nhận 01 gói ma túy mang đến khu vực chợ Gò Vấp giao cho một người không rõ lai lịch và được trả công 500.000đ.

– Lần thứ 2: Cách lần thứ nhất khoảng 02 ngày, bị cáo nhận của người thanh niên đã nêu 01 gói nylon chứa 250 viên thuốc lắc, 01 gói nylon chứa 100 viên thuốc lắc, 02 gói ma túy đá (mỗi gói 100g; 02 gói ma túy được hàn kín (không rõ loại), 01 cân điện tử và 500.000đ. Bị cáo mang ma túy về phòng trọ của mình cất giấu. Khoảng 12 giờ cùng ngày, theo chỉ đạo của người thanh niên, N nhận 02 gói lớn ma túy đá; 20g ma túy đá; 30 viên thuốc lắc loại có hình con cú mèo và 20 viên thuốc lắc loại có hình vương miện mang đi giao cho người mua ở chân cầu vượt đường Cộng Hòa, quận Tân Bình.

– Lần thứ 3: Cách lần thứ 2 khoảng 04 ngày, bị cáo tiếp tục nhận 02 gói ma túy đá được đựng trong 01 túi xách màu đen. Bị cáo về phòng trọ lấy thêm 50g ma túy đá, 02 gói ma túy được hàn kín (không rõ loại ma túy, đã được đề cập), 50 viên thuốc lắc loại có hình vương miện và 30 viên thuốc lắc có hình con cú mèo mà người thanh niên đã giao cho bị cáo trước đó, rồi đem đi giao cho khách tại đường Lê Đức Thọ, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng tiền công 500.000đ.

– Lần thứ 4: Vào ngày 13/4/2020, bị cáo gặp và nhận của người thanh niên 02 gói ma túy màu vàng, 01 gói ma túy màu xanh và 500.000đ. Bị cáo để số ma túy đã nêu ở chỗ để chân xe máy biển số 59P2-681.40 rồi đi về phòng trọ. Khi bị cáo vừa về đến trước nhà số C4/8 B12, Tổ 190, Ấp 4, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh thì bị Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy vừa mới nhận. Cơ quan công an tiến tiến hành khám xét nơi ở của bị cáo và thu giữ số ma túy còn lại của lần thứ 2 chưa giao hết như đã nêu trên (BL: 187 đến 191, 195 đến 2010).

Ngoài việc vận chuyển ma túy cho người thanh niên như đã nêu, bị cáo còn 04 lần vận chuyển ma túy cho một người đàn ông tên Minh và Điếc (đều không rõ lai lịch) và nhận được 2.000.000đ tiền công từ các đối tượng này.

Trong quá trình điều tra, gia đình bị cáo đã tự nguyện thay cho bị cáo nộp lại 4.000.000đ tiền thu lợi bất chính.

Đối với đối tượng thuê N vận chuyển ma túy (không rõ tên, địa chỉ). Qua điều tra xác định đối tượng này là Trần Hồng Công (sinh năm 1986, đăng ký thường trú tại: 97/23D đường Phạm Văn Chiêu, Phường 16, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh). Công đã thuê căn hộ 8.3, Lầu 8, chung cư 44 Nguyễn Biểu, Phường 1, Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh từ 19/9/2019 đến 20/4/2020 nhưng sau đó đã trả căn hộ và đi đâu không rõ. Qua xác minh tại Công an, Phường 16, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xác định gia đình Công đã bán nhà và chuyển đi đâu không rõ. Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh truy tìm để xử lý (bl.109, 110, 147, 160, 161).

Đối với các đối tượng Minh, Điếc: N khai không rõ lai lịch của những người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh truy tìm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2021/HS-ST ngày 15/3/2021 của Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ điểm h, khoản 4, khoản 5 Điều 250, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 228, Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Hoài N tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”,

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/3/2021 bị cáo N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Trong phần thủ tục bắt đầu phiên toà; Hội đồng xét xử thông báo cho bị cáo N biết luật sư Phạm Minh Tâm vắng mặt và có đơn xin hoãn hiên toà. Hội đồng xét xử hỏi bị cáo N, tại phiên toà hôm nay vắng mặt luật sư Tâm nhưng có Luật sư Võ Cát Tường, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa chỉ định cho bị cáo, vậy bị cáo đề nghị hoãn phiên toà để Luật sư Tâm bào chữa cho bị cáo hay đề nghị tiếp tục xét xử. Bị cáo N đồng ý để Luật sư Tường bào chữa cho bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bị cáo để Luật sư Võ Cát Tường bào chữa cho bị cáo. Đề nghị tiếp tục xét xử.

Hội đồng xét xử thảo luận tại chỗ và đồng ý với yêu cầu của bị cáo và đề nghị của đại diện viện kiểm sát Nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục xét xử vụ án với sự tham gia bào chữa của Luật sư Võ Cát Tường.

Bị cáo N giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm quy kết. Bị cáo khai nhận việc phạm tội do cần tiền tiêu xài và khi thực hiện việc vận chuyển ma tuý bị cáo không biết rằng mức hình phạt cho tội này có khung hình phạt nặng như vậy. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết gỉam nhẹ nào mới.

Đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm phát biểu: Căn cứ vào các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thấy rằng: Bị cáo nhiều lần đi giao ma tuý cho các đối tượng không rõ nhân thân lai lịch để hưởng tiền công, khối lượng ma tuý mà bị cáo vận chuyển là hơn 3kg bao gồm nhiều loại 3.028,164g Methamphetamine, 30,1718g Ketamine, 86,4664g MDMA. Hành vi của bị cáo N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo điểm h khoản 4 Điều 250 của Bộ luật Hình sự như án sơ thẩm tuyên là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét khối lượng ma tuý mà bị cáo vận chuyển là rất lớn. Toà án cấp sơ thẩm áp dụng mức hình phạt cao nhất là tử hình đối với bị cáo là có căn cứ, tại phiên toà hôm nay bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu: Thống nhất về tội danh như án sơ thẩm đã tuyên, tuy nhiên cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo phạm tội do bị người khác lôi kéo; phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có ông ngoại là người tham gia cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất; sau khi phạm tội, gia đình bị cáo đã tự nguyện nộp lại 4.000.000 đồng tiền bị cáo thu lợi bất chính. Tại phiên toà hôm nay bị cáo đồng ý nộp thêm số tiền hình phạt bổ sung là 20.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm nhẹ hình phạt từ tử hình xuống chung thân cho bị cáo.

Bị cáo thống nhất với phần trình bày bào chữa của Luật sư, bị cáo không tranh luận gì thêm.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình bị cáo chỉ mong Hội đồng xét xử cho bị cáo một cơ hội được sống.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Nguyễn Minh Hoài N là tài xế xe ôm, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên đã đồng ý vận chuyển ma túy cho một số đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch để hưởng tiền công. Từ đầu tháng 4 năm 2020 đến ngày 13/4/2020 bị cáo N đã 4 lần vận chuyển ma tuý, hưởng lợi bất chính 4.000.000 đồng. Tổng khối lượng ma túy mà bị cáo vận chuyển khi bị bắt quả tang và ma túy cất giữ tại nơi ở gồm: 3.028,164g Methamphetamine; 30,1718g Ketamine; 86,4664g MDMA.

Quá trình điều tra, xét xử bị cáo N đã khai nhận diễn biến hành vi phạm tội như nêu trên. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm vào hoạt động quản lý độc quyền của Nhà Nước về cất giữ, vận chuyển, trao đổi các chất ma túy, ngoài ra còn gây mất trật tự trị an xã hội. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tội cấu thành tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Do khối lượng ma túy mà bị cáo vận chuyển là hơn 3kg bao gồm nhiều loại 3.028,164g Methamphetamine, 30,1718g Ketamine, 86,4664g MDMA nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này” theo điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Minh Hoài N, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Mặc dù quá trình điều tra, xét xử bị cáo N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã nộp lại 4.000.000 đồng tiền bị cáo thu lợi bất chính, nhưng xét khối lượng ma tuý mà bị cáo vận chuyển là rất lớn hơn 3kg, gây ra hậu quả đặc biệt lớn cho xã hội. Tại phiên toà hôm nay bị cáo N không xuất trình thêm được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào nên không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên mức hình phạt tử hình đối với bị cáo, loại bỏ bị cáo khỏi đời sống xã hội.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ nên được chấp nhận.

Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là không có cơ sở nên không được chấp nhận.

Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Minh Hoài N. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 75/2021/HS-ST ngày 15/3/2021 của Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần quyết định hình phạt đối với bị cáo.

1. Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 250; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 40 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Hoài N: Tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Minh Hoài N để đảm bảo thi hành án.

Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo Nguyễn Minh Hoài N có quyền làm đơn xin Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ân giảm án tử hình.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Minh Hoài N phải chịu 200.000 đồng.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Xuân Minh

Nguyễn Văn Hùng

Hoàng Minh Thịnh

Cỡ chữ