- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng thế chấp giữa anh P và chị H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng : Điều 164, Điều 342, Điều 417, Điều 425, Điều 697, Điều 715 Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 158, Điều 317, Điều 413, Điều 425, Điều 427, Điều 500 Bộ luật Dân sự năm 2015); Điều 166, Điều 168 Luật đ t đai năm 2013; Điều 119, Điều 144 Luật nhà ở năm 2014 và Ngh quyết 326/201…
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 119 Luật nhà ở; Điều 144 Luật nhà ở
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 378/2019/DS-PT Ngày: 24-10-2019 v Tranh ch p hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t; hợp đồng thế ch p. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi ăn Phương.
Các Thẩm phán:
Ông Sỹ Danh Đạt.
Ông Đinh Chí Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tr nh Thùy ân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đ i di n Vi n ki m át nh n d n t nh Đồng Tháp: Ông Bùi ăn Thân – iểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 24/10/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 199/2018/TLPT-DS, ngày 28 tháng 9 năm 2018, về vi c Tranh ch p hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t; hợp đồng thế ch p”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 47/2018/DS-ST ngày 17/8/2018 của Toà án nhân dân huy n Cao L, tỉnh Đồng tháp kháng cáo.
Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 429/2019 QĐ-PT, ngày 04 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Đoàn Minh P, sinh năm 1986.
Đ a chỉ: Số 5A, Tổ 13, khóm Mỹ T, phường Mỹ P, thành phố Cao L, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại di n theo ủy quyền là à Nguyễn Th Thu T, sinh năm 1966; đ a chỉ: Tổ 36, khóm 4, Phường 1, thành phố Cao L, tỉnh Đồng Tháp (hợp đồng ủy quyền ngày 08 10 2018) (có mặt).
Người ảo v quyền và lợi ích hợp pháp là ông Phạm Hoàng Đ – luật sư, Công ty Luật hợp danh Anh E Luật sư - chi nhánh Đồng Tháp, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
2. B đơn: Nguyễn Thanh H, sinh năm 1978 (có mặt).
Đ a chỉ: p Thanh T, xã Nh M, huy n Cao L, tỉnh Đồng Tháp.
Hi n đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1Ngân hàng A.
Đ a chỉ: Trần Hữu D, hu đô th Mỹ Đ, Từ L, Hà Nội.
Người đại di n theo pháp luật ông Tr nh Ngọc ; chức vụ: Chủ t ch Hội đồng thành viên Ngân hàng A.
Người đại di n theo ủy quyền là ông Hà Thúc N; chức vụ: Giám đốc Ngân hàng A – chi nhánh huy n Cao L; Đ a chỉ: khóm Mỹ T, th tr n Mỹ T, huy n Cao L, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại di n theo ủy quyền của ông N là anh Nguyễn Quốc T1; chức vụ: Phó giám đốc Ngân hàng A – chi nhánh huy n Cao L; đ a chỉ: khóm Mỹ T, th tr n Mỹ T, huy n Cao L, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
Người ảo v quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng A là luật sư Mai T – Công ty Luật TNHH MT Tuyên T và Công S thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
3.2 Anh Nguyễn ăn N, sinh năm 1979 (có mặt);
Đ a chỉ: p Thanh T, xã Nh M, huy n Cao L, tỉnh Đồng Tháp.
4. Người kháng cáo: Anh Đoàn Minh P là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG V ÁN:
Nguyên đơn anh Đoàn Minh P trình bày:
Ngày 31 10 2016, anh Đoàn Minh P có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản khác gắn liền với đ t thuộc thửa 605, thửa 609, cùng tờ ản đồ số 06, đ t tọa lạc tại khóm Mỹ T, th tr n Mỹ T, huy n Cao L, tỉnh Đồng Tháp với ch Nguyễn Thanh H, giá chuyển nhượng thực tế 3.300.000.000 đồng. Ngày 31 10 2016, ch H đã trả cho anh P 1.600.000.000 đồng, số tiền 1.700.000.000 đồng còn lại các ên thỏa thuận sau khi có gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đ t sang tên ch H, ch H sẽ trả đủ cho anh P. Ngày 03 11 2016, ch H được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đ t thuộc thửa 605, thửa 609, tờ ản đồ số 06, tọa lạc tại khóm Mỹ T, th tr n Mỹ T, huy n Cao L, tỉnh Đồng Tháp anh P iết nhưng không khiếu nại hay tranh ch p, nhưng anh P có yêu cầu ch H trả số tiền còn lại nhiều lần nhưng ch H không thực hi n.
Anh P thừa nhận giữa anh P và ch H ký nhiều hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t thuộc thửa 605, thửa 609, tờ ản đồ số 06 vào các ngày khác nhau và ghi giá chuyển nhượng khác nhau, mục đích để ên nhận chuyển nhượng giảm tiền thuế chuyển nhượng. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t ký ngày 02 11 2016 giữa anh P với ch H không được công chứng mục đích là để xác đ nh giá tr chuyển nhượng thực tế là 3.300.000.000đồng. Nhà, đ t thuộc thửa 605, thửa 609, tờ bản đồ số 06 hi n nay anh P là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng mà chưa giao cho ch H và cũng không cho ai thuê. Anh P thống nh t di n tích nhà, đ t và hi n trạng nhà, đ t thuộc thửa 605, thửa 609, tờ ản đồ số 06 theo sơ đồ đo đạc ngày 01 12 2017 của ăn phòng đăng ký quyền sử dụng đ t huy n Cao L và iên ản xem xét thẩm đ nh ngày 01 12 2017 của Tòa án và thống nh t di n tích đ t thổ cư theo gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t c p cho ch H ngày 03/11/2016.
Anh P khẳng đ nh, hợp đồng ngày 31 10 2016 chỉ thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t thuộc thửa 605, thửa 609, tờ ản đồ số 06, không ao gồm các tài sản trong nhà như tivi, tủ lạnh, máy lạnh, àn, ghế, dường, n m. Nếu ao gồm các tài sản trong nhà như tivi, tủ lanh, máy lạnh, àn, ghế, dường, n m thì giá 3.500.000.000 đồng, nhưng ch H không đồng ý.
Anh P xác đ nh giữa anh P, ch H và ông H không có thỏa thuận về vi c anh P đồng ý cho ông H hùn số tiền 1.500.000.000 đồng để cùng ch H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t thuộc thửa 605, thửa 609, tờ ản đồ số 06 của anh P. i c ch H thỏa thuận với ông H như thế nào thì anh P hoàn toàn không iết. Anh P không có nợ ông H số tiền 1.500.000.000 đồng và cũng không nợ ch H 200.000.000 đồng. Bà T (mẹ anh P) có nợ ông H, ch H hay không thì anh P không iết. Anh P cũng không đồng ý c n trừ số nợ của à T nợ ông H, ch H vào số tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t thuộc thửa 605, thửa 609, tờ ản đồ số 06 ký ngày 31 10 2016 giữa anh P với ch H.
Ngày 03 11 2016, ch H được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đ t. Ngày 8 11 2016, ch H ký hợp đồng thế ch p quyền sử dụng đ t, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đ t thuộc thửa 605, thửa 609, tờ ản đồ số 06 với Ngân hàng A – tại Chi nhánh huy n Cao L (viết tắt là Ngân hàng) để vay số tiền 2.500.000.000 đồng. Hi n nay, tài sản thế ch p đã được Chi cục Thi hành án dân sự huy n Cao L ra quyết đ nh kê iên. Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t giữa anh P với ch H ký ngày 31 10 2016 chưa thực hi n xong; nhưng ch H đem tài sản nhận chuyển nhượng là quyền sử dụng đ t, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đ t thuộc thửa 605, thửa 609, tờ ản đồ số 06 để thế ch p tại Ngân hàng là vi phạm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t ký ngày 31/10 2016 giữa anh P với ch H nên hợp đồng thế ch p giữa Ngân hàng với ch H đã xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh P.
Anh P yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t giữa anh P với ch H ký ngày 31/10/2016. Anh P không yêu cầu giải quyết hậu quả của vi c hủy hợp đồng, anh P đồng ý trả lại cho ch H 1.600.000.000 đồng.
Ngày 08/6/2018, anh P có đơn khởi ki n ổ sung yêu cầu hủy hợp đồng thế ch p số: 093 ký ngày 8 11 2016 giữa Ngân hàng với ch Nguyễn Thanh H. Ngoài ra, anh P yêu cầu hủy Quyết đ nh thi hành án theo yêu cầu số: 1644 QĐ-CCTHADS ngày 05 5 2017 và Quyết đ nh số: 01 QĐ-CCTHADS ngày 13 10 2017 về vi c cưỡng chế kê iên quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t của Chi cục Thi Hành án dân sự huy n Cao L. Ngoài các yêu cầu trên thì anh P không còn yêu cầu nào khác.
Bị đơn chị Nguyễn Thanh H trình bày:
Ngày 31 10 2016, ch H có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t thuộc thửa 605, thửa 609, cùng tờ ản đồ số 06, đ t tọa lạc tại khóm Mỹ T, th tr n Mỹ T, huy n Cao L, tỉnh Đồng Tháp và toàn ộ tài sản dùng để kinh doanh nhà trọ như àn, ghế, giường, n m, tủ lạnh, máy lạnh, ti vi với anh Đoàn Minh P. Hợp đồng có công chứng tại ăn phòng công chứng huy n L p ò ngày 31 10 2016. Giá chuyển nhượng theo thỏa thuận thực tế là 3.300.000.000 đồng (Ba tỷ a trăm tri u đồng). Ngày 31 10 2016, ch H đã trả cho anh P 1.600.000.000 đồng ( à T là người trực tiếp nhận). Ch H thống nh t hi n trạng nhà, đ t theo iên ản xem xét thẩm tại chỗ ngày 01 12 2017 của Tòa án và thống nh t di n tích đ t thổ cư theo gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t c p cho ch H. Phần di n tích nhà, đ t còn lại, ch H thống nh t theo sơ đồ đạc ngày 01 12 2017 của ăn phòng đăng ký quyền sử dụng đ t huy n Cao L.
Trước khi thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t thuộc thửa 605, thửa 609, tờ ản đồ số 06 của anh P; bà T (mẹ của anh P) và ông H với ch H có thỏa thuận mi ng, à T đồng ý c n trừ số nợ 1.500.000.000 đồng mà à T nợ ông Hòa, nên ch H mới đồng ý nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t thuộc thửa 605, thửa 609, tờ ản đồ số 06 c p cho anh P. Ngoài số tiền 1.500.000.000 đồng ông H đồng ý góp vốn để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t thuộc thửa 605, thửa 609, tờ ản đồ số 06. Ch H xác đ nh, à T còn nợ ch H 150.000.000 đồng theo iên nhận ngày 14 6 2016 và à T đồng ý c n trừ 50.000.000 đồng tiền lãi mà trước đây à T có vay tiền ch H nhưng chưa trả tiền lãi. Tổng cộng, ch H đã trả đủ cho anh P 3.300.000.000 đồng.
Ngày 03 11 2016, ch H được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đ t thuộc thửa 605, thửa 609, tờ ản đồ số 06. Sau khi được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đ t thuộc thửa 605, thửa 609, tờ ản đồ số 06, ch H yêu cầu à T giao nhà, đ t cho ch H nhưng à T không đồng ý và bà T yêu cầu ch H phải trả số tiền 1.700.000.000 đồng còn lại thì à T mới giao nhà, đ t. Bà T cho rằng nhà, đ t thuộc thửa 605, thửa 609, tờ ản đồ số 06 là của anh Đoàn Minh P (con của à T) nên bà T không đồng ý c n trừ số tiền 1.500.000.000 đồng mà à T còn nợ anh H và 200.000.000 đồng bà T nợ ch H vào tiền nhận chuyển nhượng. Ngoài thỏa thuận giữa ch H với à T thì ch H thừa nhận không có thỏa thuận nào với anh P để c n trừ nợ của à T vào tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t thuộc thửa 605, thửa 605, tờ ản đồ số 06.
Giữa ch H và bà T có thỏa thuận à T đồng ý c n trừ 1.500.000.000 đồng mà bà T nợ ông H và 200.000.000 đồng à T nợ ch H hai ên chỉ nói ằng mi ng, không có làm gi y tờ. hi làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t thuộc thửa 605, thửa 609, tờ ản đồ số 06 thì ch H mới iết anh P là chủ sở hữu.
i c thỏa thuận mua các vật dụng trong nhà như àn, ghế, giường, n m, tủ lạnh, máy lạnh, ti vi thì ch H và bà T (mẹ của anh P) chỉ thỏa thuận mi ng, không có gi y tờ chứng minh.
Hi n nay, gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đ t thuộc thửa 605, thửa 609, tờ ản đồ số 06, ch H đã thế ch p tại Ngân hàng ngày 08 11 2016 vay số tiền 2.500.000.000 đồng.
Đối với yêu cầu của anh P yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản khác gắn liền với đ t ký ngày 31 10 2016 giữa anh P với ch H thì ch H không đồng ý vì ch H đã trả đủ số tiền 3.300.000.000 đồng cho anh P. Ch H yêu cầu tiếp tục thực hi n hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t ký ngày 31 10 2016 giữa anh P với ch H.
Ngày 03/11/2016, ch H được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đ t thửa 605, thửa 609, tờ ản đồ số 06, đ t tọa lạc tại khóm Mỹ T, th tr n Mỹ T, huy n Cao L, tỉnh Đồng Tháp. Ngày 08 11 2016, ch H thế ch p quyền sử dụng đ t, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền đ t thửa đ t 605, thửa 609, tờ ản ản đồ số 06, tọa lạc tại khóm Mỹ T, th tr n Mỹ T, huy n Cao L, tỉnh Đồng Tháp cho Ngân hàng vay số tiền 2.500.000.000 đồng. Nay, anh P yêu cầu hủy hợp đồng thế ch p số: 093 ngày 08 11 2016, ch H không đồng ý.
Ngày 29 8 2017, tại iên ản về vi c giải quyết thi hành án, ch H đồng ý giao tài sản thế ch p là quyền sử dụng đ t, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đ t thuộc thửa 605, thửa 609, tờ ản đồ số 06 để Thi hành án phát mãi kê biên trả nợ cho Ngân hàng. Ch H không yêu cầu giải quyết hợp đồng thế ch p số: 093 ngày 08 11 2016 giữa ch H với Ngân hàng vì tài sản thế ch p ch H đã đồng ý giao cho Thi hành án phát mãi kê iên trả nợ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng A trình bày:
Ngày 8 11 2016, ch H có thế ch p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đ t các thửa 605, thửa 609, đ t tọa lạc tại khóm Mỹ T, th tr n Mỹ T, huy n Cao L, tỉnh Đồng Tháp tại Ngân hàng để vay 2.500.000.000 đồng. Sau khi xem xét hồ sơ do ch H cung c p, Ngân hàng xác đ nh là quyền sử dụng đ t, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đ t thuộc thửa 605, thửa 609, tờ ản đồ số 06 là tài sản hợp pháp của ch H do đó Ngân hàng đồng ý cho ch H vay 2.500.000.000 đồng.
Do ch H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã khởi ki n tại Tòa án yêu cầu ch H phải trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng. ụ án đã được Tòa án nhân dân huy n Cao L thụ lý, giải quyết. Ch H đồng ý trả nợ cho Ngân hàng nên Tòa án đã ra quyết đ nh công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự và quyết đ nh của Tòa án đã có hi u lực thi hành thì Ngân hàng đã yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự huy n Cao L kê iên tài sản thế ch p để trả khoản vay của ch H tại Ngân hàng và hi n nay tài sản thế ch p đã được Chi cục Thi hành dân sự huy n Cao L ra Quyết đ nh số 01 QĐ-CCTHADS ngày 13 10 2017 về vi c cưỡng chế kê iên quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t và Thông áo số 01/TB-CCTHADS ngày 13 10 2017 về vi c cưỡng chế thi hành án.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn thì Ngân hàng có ý kiến như sau, Ngân hàng không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn. Ngân hàng yêu cầu giữ nguyên hi n trạng tài sản thế ch p, yêu cầu tiếp tục kê iên và án đ u giá tài sản thế ch p để đảm ảo nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.
B n án thẩm 47/2018/DS-ST ngày 17/8/2018 và Quyết định
25/2018/QĐ-SCBSBA ngày 27/8/2018 của Tòa án nh n d n huy n Cao L tuyên xử:
- hông ch p nhận yêu cầu của anh Đoàn Minh P về vi c yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t ngày 31/10 2016 với ch Nguyễn Thanh H.
- Ch p nhận yêu cầu tiếp tục thực hi n hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t ngày 31 10 2016 giữa ch Nguyễn Thanh H với anh Đoàn Minh P. Buộc ch Nguyễn Thanh H có nghĩa vụ trả cho anh Đoàn Minh P 1.700.000.000đồng. Buộc anh Đoàn Minh P có nghĩa vụ giao nhà, đ t và tài sản gắn liền với đ t thuộc thửa 605, thửa 609 (di n tích nhà, đ t thuộc thửa 605, thửa 609, tờ ản đồ số 06 được xác đ nh theo sơ đồ đo đạc ngày 01 12 2017 và sơ đồ đo đạc ổ sung ngày 03 5 2018 của ăn phòng đăng ký quyền sử dụng đ t huy n Cao L).
- hông ch p nhận yêu cầu của anh Đoàn Minh P về vi c yêu cầu hủy hợp đồng thế ch p số: 093 ngày 08 11 2016 giữa ch Nguyễn Thanh H và Ngân hàng A – Chi nhánh huy n Cao L.
ể từ ngày ản án có hi u lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết đ nh thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong t t cả các khoản tiền, hàng tháng ên phải thi hành án còn phải ch u khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi su t quy đ nh tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- ề án phí:
+ Anh Đoàn Minh P phải ch u 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch về vi c yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng ngày 31 10 2016 không được ch p nhận và 300.000 đồng về vi c yêu cầu hủy hợp đồng thế ch p số: 093 ngày 08 11 2016 không được ch p nhận và 98.000.000 đồng tiền án phí dân sự có giá ngạch, được trừ vào tiền tạm ứng án phí anh Đoàn Minh P đã nộp theo iên lai thu số 16210 ngày 19 10 2017 và iên lai số 0000334 ngày 20 6 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huy n Cao L, anh P còn phải nộp tiếp 98.000.000 đồng.
+ Ch Nguyễn Thanh H phải ch u 63.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo iên lai thu tạm ứng án phí số 04492 ngày 06 4 2018 của Chic cục Thi hành án dân sự huy n Cao L, ch H còn phải nộp tiếp 62.700.000 đồng.
+ Anh Đoàn Minh P phải ch u 3.921.800 đồng chi xem xét thẩm đ nh tại chỗ, đ nh giá tài sản, anh P đã nộp và chi xong.
Ngoài ra ản án sơ thẩm còn tuyên về quyền và thời hạn kháng cáo, quyền, nghĩa vụ và thời hi u thi hành án của các đương sự theo quy đ nh của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/8/2018 nguyên đơn Đoàn Minh P kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2018/DS-ST ngày 17/8/2018 của Toà án nhân dân huy n Cao L, yêu cầu:
+ Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t ngày 31/10/2016 và ngày 02/11/2016 giữa anh P và bà Nguyễn Thanh H.
+ Hủy hợp đồng thế ch p số 93 ngày 08/11/2016 giữa bà Nguyễn Thanh H với Ngân hàng Nông nghi p A – Chi nhánh huy n Cao L.
+ Hủy Quyết đ nh thi hành án theo yêu cầu số 1644 QĐ-CCTHADS ngày 05/5/2017; Quyết đ nh về vi c cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền với đ t số 01 QĐ-CCTHADS ngày 13/10/2017 và Thông báo về vi c cưỡng chế thi hành án số 01/TB-CCTHADS ngày 13/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huy n Cao L.
+ Anh Đoàn Minh P đồng ý trả lại cho bà Nguyễn Thanh H số tiền là 1.600.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà T xác đ nh nguyên đơn anh Đoàn Minh P tiếp tục giữ nguyên nội dung khởi ki n và kháng cáo, yêu cầu phúc thẩm xử ch p nhận yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t ký kết ngày 31/10/2016 và ngày 02/11/2016 giữa anh P với ch H; hủy Hợp đồng thế ch p quyền sử dụng đ t (QSDĐ) giữa ch H với Ngân hàng, anh P trả lại ch Nguyễn Thanh H 1,6 tỷ đồng, vì lý do hợp đồng chuyển nhượng chưa thực hi n, ch H vi phạm hợp đồng và không thể thực hi n được hợp đồng; ch H chưa nhận được tài sản chuyển nhượng là nhà, đ t mà thế ch p và Ngân hàng nhận thế ch p là không đúng pháp luật và hủy các Quyết đ nh về thi hành án có liên quan.
B đơn Nguyễn Thanh H giữ nguyên ý kiến như đã trình ày ở c p sơ thẩm và yêu cầu Tòa phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn ăn N yêu cầu tòa phúc thẩm xét xử theo quy đ nh pháp luật, không yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng A(Ngân hàng) có ý kiến và yêu cầu Tòa phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư Đ bảo v quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn anh Đoàn Minh P trình bày vi c giao d ch chuyển nhượng nhà và đ t giữa anh P và ch H tuy hai ên đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng và thủ tục sang tên cho ch H, nhưng ch H mới trả 1,6 tỷ chưa thanh toán xong số tiền còn lại cho anh P, anh P cũng chưa giao nhà và đ t cho ch H, nên được coi là chưa thực hi n xong hợp đồng nên vi c ch H đem thế ch p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đối với phần đ t này cho Ngân hàng để vay tiền là không đúng, mặt khác hi n tại ch H hoàn toàn không có khả năng thanh toán tiền mua nhà đ t này để tiếp tục thực hi n hợp đồng chuyển nhượng với anh P, nên anh P yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa anh P với ch H và hủy hợp đồng thế ch p QSDĐ giữa ch H và Ngân hàng là có căn cứ đề ngh Hội đồng xét xử ch p nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Luật sư Mai T bảo v quyền và lợi ích hợp pháp cho Ngân hàng đề ngh Hội đồng xét xử không ch p nhận kháng cáo của nguyên đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm vì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t giữa anh P và ch H đã thực hi n xong, vi c Ngân hàng cho vay và nhận thế ch p gi y chứng nhận QSDĐ của ch H là thực hi n đúng quy đ nh pháp luật, vì ch H có gi y tờ sở hữu tài sản là có quyền thế ch p.
Ý kiến của Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân Tỉnh đã phát iểu về tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đều ch p hành đúng quy đ nh của pháp luật; về quan điểm giải quyết vụ án Kiểm sát viên nhận đ nh án sơ thẩm không đưa à T là mẹ của nguyên đơn vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là thiếu tư cách đương sự, vì bà T hi n là người đang ở và quản lý nhà đ t tranh ch p, đây là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đề ngh hủy án sơ thẩm, giao hồ sơ về c p sơ thẩm giải quyết lại theo quy đ nh pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài li u, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Quyền sử dụng đ t (QSDĐ) và nhà gắn liền với đ t đang tranh ch p có đủ cơ sở xác đ nh là đ t và nhà ở (nhà xây c p 03 và 04) gắn liền với đ t thuộc thửa đ t số 605 và 609, cùng tờ số 06, tại th tr n Mỹ T, huy n Cao L là thuộc quyền sở hữu, sử dụng của anh P, đã được c p gi y hợp pháp ngày 30/01/2012, anh P giao cho mẹ anh là bà Nguyễn Th Thu T quản lý, sử dụng nhà đ t này làm cơ sở kinh doanh nhà nghĩ Phương Thảo Q”; anh P tự nguy n giao kết ký hợp đồng chuyển nhượng cho ch H được công chứng tại ăn phòng Công chứng L p V ngày 31/10/2016, theo khai nhận của các bên thì vi c chuyển nhượng do bà T trực tiếp giao d ch với ch H, giá chuyển nhượng là 3,3 tỷ, ch H đã trả cho anh P do bà T nhận 1,6 tỷ, còn lại 1,7 tỷ giao kết khi ch H có gi y chứng nhận QSDĐ mới thì ch H trả đủ cho anh P và ch H đã tiến hành đăng ký thủ tục chuyển quyền theo pháp luật, ch H nộp thủ tục tại một cửa ngày 31/10/2016, phiếu hẹn 10 ngày trả kết quả, nhưng chỉ mới 03 ngày là ch H đã được c p gi y chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đ t đó là ngày 03/11/2016, trong khi bà T thì chờ đến 10 ngày có gi y l y tiền, nhưng ch H không thanh toán số tiền còn lại 1,7 tỷ cho anh P như giao kết, mà ngày 08/11/2016 (trước ngày hẹn có gi y 02 ngày) ch H đã ký hợp đồng thế ch p nhà, đ t này cho Ngân hàng, vay được 2,5 tỷ, vẫn không thanh toán tiền mua nhà 1,7 tỷ cho anh P, nên anh P, bà T không giao nhà đ t cho ch H, dẫn đến xung đột, tố cáo và khởi ki n. Vi c ch H khai nại rằng có thỏa thuận số tiền 1,7 tỷ đồng này được kh u trừ vào khoản nợ của bà T đối với ông H 1,5 tỷ và của ch H 200.000.000đ, nhưng à T cũng như ông H đều không thừa nhận và ch H không có chứng cứ tài li u khác chứng minh, nên nội dung khai nại này là không có thật, Tòa án sơ thẩm xác đ nh ch H chưa thực hi n nghĩa vụ trả số tiền 1,7 tỷ này là có cơ sở.
Về giao d ch với Ngân hàng:
Ngày 08/11/2016 ch H lập các thủ tục với Ngân hàng, trong đó có biên bản xác đ nh giá tr tài sản và Hợp đồng thế ch p nhà đ t này hai bên lập ký tại trụ sở Ngân hàng, qua ngày 09/11/2016 thì giải ngân cho ch H vay 2,5 tỷ, thời hạn cho vay là trung hạn, phân kỳ trả nợ, nhưng chưa đến hạn kỳ đầu tiên, thì Ngân hàng l y lý do 02 hợp đồng thế ch p trước của các hợp đồng tín dụng trước đó quá hạn nên coi khoản vay và thế ch p nhà đ t này là đến hạn và khởi ki n đến Tòa án huy n Cao L hòa giải và quyết đ nh công nhận hòa giải thành ngày 27/4/2017; ch H và chồng là anh N cùng 02 thành viên khác trong hộ gia đình có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng 3,9 tỷ vốn (trong đó có 2,5 tỷ mới vay này) và cộng lãi 202.037.693 đồng, tổng cộng bằng 4.102.037.639 đồng; cơ quan Thi hành án đã có quyết đ nh cưỡng chế kê biên tài sản theo các hợp đồng thế ch p, trong đó có nhà đ t này, nhưng chưa tống đạt cho anh P và cũng chưa lập biên bản kê biên thực tế.
Từ diễn biến các tình tiết trên cho th y:
Giao d ch chuyển nhượng nhà đ t của anh P cho ch H là có thật, tự nguy n; tuy nhiên, các bên chỉ mới thực hi n hợp đồng về phần thủ tục pháp luật; nội dung chính của hợp đồng thì chưa thực hi n; cụ thể: Nghĩa vụ chính của ên người nhận nhượng (nghĩa vụ trả tiền) chỉ mới trả 01 phần (chưa đạt 50%); nghĩa vụ chính của ên người chuyển (nghĩa vụ chuyển giao tài sản) là chưa chuyển giao. Trong trường hợp này b coi là chưa thực hi n hợp đồng, bên mua đã vi phạm hợp đồng, thì bên bán có quyền không giao tài sản bán (không giao nhưng không vi phạm hợp đồng) và hi n nay, ên mua đã hoàn toàn m t khả năng về kinh tế, ch H đã thực hi n hành vi lừa đảo, lạm dụng chiếm đoạt tài sản của nhiều người khác đang truy cứu trách nhi m hình sự với số tiền chiếm đoạt phải bồi thường hơn 06 tỷ đồng và phải thi hành án khoản nợ Ngân hàng trên 04 tỷ đồng, như vậy ch H hoàn toàn không có khả năng thanh toán tiền mua nhà đ t này để tiếp tục thực hi n hợp đồng chuyển nhượng với anh P; tại phiên tòa phúc thẩm ch H xác đ nh ch và gia đình ch hi n nay hoàn toàn không còn tài sản gì để có tiền 1,7 tỷ đồng trả cho anh P để nhận nhà đ t theo bản án sơ thẩm. Như vậy, rõ ràng nghĩa vụ chính của ch H là nghĩa vụ trả tiền mà ch H đã không trả và không có khả năng trả, là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng theo quy đ nh tại Điều 425 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 423, Điều 425, Điều 427 Bộ luật dân sự năm 2015 và nghĩa vụ của anh P giao nhà, đ t không thực hi n được là do lỗi của ch H không trả tiền, anh P có quyền hủy bỏ hợp đồng được quy đ nh tại Điều 417 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 413 Bộ luật dân sự năm 2015, cho nên anh P yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng, hoàn trả 1,6 tỷ đồng đã nhận cho ch H là có căn cứ.
Nhà đ t ch H nhận chuyển nhượng của anh P chỉ mới thực hi n một phần về thủ tục chuyển quyền, ch H chưa nhận được tài sản, là chưa có được quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, ch H chưa có đủ ba quyền của quyền sở hữu, ch H chưa phải là người chủ sở hữu đối với tài sản này theo Điều 164 Bộ luật dân sự năm 2005, nay là Điều 158 Bộ luật dân sự năm 2015 và không có khả năng trả tiếp tiền mua để được nhận chuyển giao tài sản, trở thành chủ sở hữu tài sản theo pháp luật, b buộc phải hủy hợp đồng; mặc khác, tuy ch H đã được c p gi y chứng nhận nhà, đ t này, nhưng theo Điều 168 Luật đ t đai 2013 thì thời điểm người sử dụng đ t được thực hi n các quyền, trong đó có quyền thế ch p quyền sử dụng đ t trong trường hợp người sử dụng đ t được chậm thực hi n nghĩa vụ tài chính, thì phải thực hi n xong nghĩa vụ tài chính trước khi thực hi n các quyền, như vậy, theo quy đ nh này thì ch H phải trả đủ 1,7 tỷ đồng cho anh P trước rồi mới được thực hi n quyền thế ch p nhà, đ t này cho Ngân hàng hoặc như Điều 342, Điều 715 Bộ luật dân sự 2005 quy đ nh thế ch p tài sản, quyền sử dụng đ t là dùng tài sản thuộc sở hữu của mình; Điều 119, Điều 144 Luật nhà ở cũng quy đ nh người thế ch p nhà ở phải là chủ sở hữu, nhưng ch H thì chưa có quyền sở hữu tài sản này, mà ch H mang gi y tờ tài sản đi thế ch p, Ngân hàng thiếu kiểm tra, thẩm đ nh không chặt chẽ, không đánh giá thực tế tài sản, vội vàng kết luận là tài sản hợp pháp của ch H, trong khi thực tế là tài sản đang do người khác chiếm hữu, sử dụng, giao d ch chuyển nhượng chưa được thực hi n xong, mà Ngân hàng ch p nhận nhận thế ch p và cho vay là không đảm bảo tính đúng đắn, công khai và minh bạch, nên phải gánh ch u hậu quả rủi ro. Ngân hàng coi khoản vay, thế ch p chưa đến hạn này là đến hạn cùng với hai khoản vay trước quá hạn của cá nhân anh Nữa chồng ch H, để khởi ki n, cưỡng chế tài sản này, thu hồi nợ vay là làm thi t hại quyền và lợi ích hợp pháp của anh Minh P, cho nên anh Minh P yêu cầu hủy hợp đồng thế ch p là có cơ sở ch p nhận; đồng thời, hợp đồng chuyển nhượng đã hủy nên hợp đồng thế ch p không có căn cứ tồn tại, Ngân hàng yêu cầu công nhận hợp đồng thế ch p này là không có cơ sở pháp luật.
Về tố tụng: Bà T với tư cách vừa là mẹ anh P, vừa là người chủ cơ sở kinh doanh nhà nghỉ và trực tiếp quản lý sử dụng nhà đ t này được thể hi n rõ trong gi y chứng nhận đăng ký kinh doanh nhà nghĩ Phương Thảo Q”, biên bản Tòa án sơ thẩm l y lời khai bà T ngày 02/4/2018 (bút lụt số 225 có trong hồ sơ vụ án) bà T khai báo rõ hi n nhà đ t này đang do à T quản lý, sử dụng và văn bản kiểm tra xác minh trả lời của Công an huy n Cao L, nhưng Tòa sơ thẩm không đưa à T vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là thiếu tư cách đương sự, vi phạm về thủ tục tố tụng; tuy nhiên bà T là người liên quan về nghĩa vụ trong trường hợp buộc thực hi n hợp đồng, chuyền giao nhà đ t là vi phạm nghiêm trọng; còn liên quan về quyền lợi khi hủy hợp đồng chuyển nhượng thì bà T, anh P không đối lập, không tranh ch p, nên không b coi là vi phạm nghiêm trọng tư cách đương sự.
Về yêu cầu của anh Minh P hủy các Quyết đ nh thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự là không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, nên Hội đồng xét xử không xem xét và không cần phải phán quyết trong bản án này.
Ý kiến của luật sư Đ trình ày là có cơ sở nên được ch p nhận.
Ý kiến của luật sư Mai T cho rằng ch H có gi y sở hữu tài sản thì có quyền thế ch p là không chính xác, nên không được ch p nhận, vì có gi y sở hữu tài sản được thế ch p là khi đã có tài sản, tức là phải chiếm hữu, sử dụng được tài sản thì mới có được quyền đ nh đoạt thế ch p tài sản. Trong khi ch H chỉ có gi y, chưa có tài sản thực tại và cũng không có khả năng tài chính để chiếm hữu tài sản hợp pháp, nên ch H không có quyền thế ch p.
Ý kiến đề ngh của Kiểm sát viên đề cập, nhận đ nh và đề ngh hủy án sơ thẩm giao hồ sơ cho Tòa sơ thẩm xét xử lại là không cần thiết như nhận đ nh trên, nên không được ch p nhận.
Từ những tình tiết nhận đ nh trên, có đủ cơ sở kết luận án sơ thẩm xử không ch p nhận yêu cầu của nguyên đơn về hủy hợp đồng chuyển nhượng và hợp đồng thế ch p; công nhận các hợp đồng theo yêu cầu b đơn H và Ngân hàng; buộc anh P giao nhà đ t, ch H trả tiếp 1,7 tỷ đồng cho anh P là không phù hợp và không khả thi; anh P kháng cáo yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và hủy hợp đồng thế ch p là có căn cứ phù hợp cần được ch p nhận, nên phải sửa án sơ thẩm.
Do sửa án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải ch u án phí phúc thẩm và án phí sơ thẩm cũng được điểu chỉnh lại cho phù hợp quy đ nh pháp luật. Anh P từ đầu khởi ki n đã tự nguy n trả 1,6 tỷ cho bà H, nên anh P chỉ phải ch u 50% mức án phí theo quy đ nh pháp luật.
Các phần khác của quyết đ nh án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng : Điều 164, Điều 342, Điều 417, Điều 425, Điều 697, Điều 715 Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 158, Điều 317, Điều 413, Điều 425, Điều 427, Điều 500 Bộ luật Dân sự năm 2015); Điều 166, Điều 168 Luật đ t đai năm 2013; Điều 119, Điều 144 Luật nhà ở năm 2014 và Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy đ nh về án phí, l phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Ch p nhận kháng cáo của anh Đoàn Minh P; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2018/DS-ST ngày 17/8/2018 của Tòa án nhân dân huy n Cao L, tỉnh Đồng Tháp.
2. Ch p nhận yêu cầu của anh Đoàn Minh P đối với ch Nguyễn Thanh H. Hủy các văn ản Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đ t của các thửa đ t số 605, 609 cùng tờ ản đồ số 6 tại th tr n Mỹ T, huy n Cao L, Đồng Tháp ký kết cùng ngày 31/10/2016 và ngày 02/11 2016 giữa anh Đoàn Minh P với ch Nguyễn Thanh H.
3. Anh Đoàn Minh P có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ch Nguyễn Thanh H số tiền 1.600.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm tri u đồng).
Kể từ ngày ch H có đơn yêu cầu thi hành án mà anh P chưa thanh toán số tiến nêu trên, thì hàng tháng anh P còn phải trả lãi cho ch H theo mức lãi quy đ nh tại Khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng số tiền, thời gian chậm thi hành án cho đến khi thi hành án xong.
4. Anh Đoàn Minh P phải đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kê khai đăng ký lại quyền sử dụng đ t, nhà ở và tài sản gắn liền với đ t theo quy đ nh pháp luật đối với nhà, đ t thửa số 605, 609 cùng tờ ản đồ số 6, tại th tr n Mỹ T, huy n Cao L, Đồng Tháp.
Đề ngh Ủy an nhân dân huy n Cao L thu hồi gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đ t đối với thửa 605 số vào sổ c p GCN: CH01100, thửa 609 số vào sổ c p GCN: CH01101, điều chỉnh thay đổi tại phần I cùng ngày 03 11 2016, người đứng tên sử dụng là ch Nguyễn Thanh H, để c p lại cho anh Đoàn Minh P.
5. Ch p nhận yêu cầu của anh Đoàn Minh P đối với ch Nguyễn Thanh H và Ngân hàng A. Hủy hợp đồng thế ch p số 093 ngày 08 11 2016 ký kết giữa Ngân hàng A – tại chi nhánh huy n Cao L, Đồng Tháp và ch Nguyễn Thanh H. Buộc Ngân hàng A trả lại cho ch Nguyễn Thanh H 02 ản chính gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của 02 thửa đ t số 605 và 609 nêu trên.
6. ề án phí:
+ Ch Nguyễn Thanh H phải nộp 63.300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng ngày 06 4 2018, theo iên lai thu số 04492 của Chi cục thi hành án dân sự huy n Cao L, Đồng Tháp; ch Hoa còn nộp tiếp số tiền là 63.000.000 đồng (Sáu mươi a tri u đồng).
+ Ngân hàng A phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
+ Anh Đoàn Minh P phải nộp 30.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, không phải ch u án phí dân sự phúc thẩm; được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng ngày 19 10 2017 theo iên lai thu số 16210; 300.000 đồng nộp ngày 20 6 2018 theo iên lai thu số 0000334 và 300.000 đồng nộp ngày 24 8 2018 theo iên lai thu số 0000780 của Chi cục thi hành án dân sự huy n Cao L, Đồng Tháp; anh Phương còn phải nộp tiếp số tiền là 29.100.000 đồng (Hai mươi chín tri u, một trăm nghìn đồng).
7. ề chi phí tố tụng: Anh Đoàn Minh P ch u 3.921.800 đồng (Ba tri u, chín trăm hai mươi mốt nghìn, tám trăm đồng) (đã nộp và chi xong).
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
N i nhận:
| - SND tỉnh Đồng Tháp; - TAND huy n Cao L; - CCTHADS huy n Cao L; - Phòng KTNV-THA TAND Đồng Tháp; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Văn Phương |