- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Đỗ Cảnh K: 15( Mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 12 (mười hai) tháng tù của Bản án số 541/2022/HSST ngày 16/12/2022, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Đỗ Cảnh K về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và “Không…
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 377/2023/HSST Ngày: 21/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Anh Thư
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Lành và bà Nguyễn Thị Kim Thu
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Tuyến - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Minh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại Hội trường Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 333/2023/HSST ngày 03/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 366/2023/QĐXXST- HS ngày 04/12/2023 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Đỗ Cảnh K, sinh ngày 12 tháng 11 năm 2004
Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không
Hộ khẩu thường trú: Xóm Phú, xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Đỗ Văn Ng (Đã chết); Con bà: Dương Thị S, sinh năm 1983; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: + Tại Bản án số 541/2022/HSST ngày 16/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Đỗ Cảnh K 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và “Không tố giác tội phạm” (Tính đến ngày phạm tội Đỗ Cảnh K được 16 tuổi 10 tháng 3 ngày, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng).
+ Tại Bản án số 24/2023/HSST ngày 20/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Đỗ Cảnh K 26 tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật” (Tính đến ngày phạm tội Đỗ Cảnh K được 16 tuổi 10 tháng 4 ngày, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng).
Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Lâm, Cục C10, Bộ Công an.(Có mặt).
Bị hại:
1. Đỗ Văn C (Sinh năm 2001, trú tại: xóm Phú, xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên). (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn N (Nguyên), sinh năm 2003; HKTT: Xóm Khuân, xã Phúc Trìu, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người làm chứng: Bà Đồng Thị Thỉnh, sinh năm 1942; Địa chỉ: Xóm Phú, xã Thịnh Đức, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.(vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 23/7/2023, do không có tiền tiêu xài nên Đỗ Cảnh K nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Air Blade, màu xám bạc đen, BKS: 20B2-386.79 của anh trai là Đỗ Văn C (Sinh năm 2001, trú tại: xóm Phú, xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên). Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 23/7/2023, K đi bộ một mình về nhà tại xóm Phú, xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên, lúc này anh C và gia đình đã khóa cửa cổng và đi ngủ. K trèo tường vào nhà, đi đến giường kê tại phòng khách lấy chìa khóa để mở cửa nhà bếp và mở cổng. Sau đó, K đi vào nhà bếp dắt xe mô tô của anh C ra ngoài đường rồi cầm khóa cổng và khóa nhà bếp để trên bàn ăn trong nhà bếp. K điều khiển xe mô tô của anh C đến khu vực thành phố Phổ yên, tỉnh Thái Nguyên để tìm nơi tiêu thụ. Trên đường đi, K mở cốp xe mô tô ra kiểm tra thấy có 01 ví da màu đen, trong ví có giấy tờ tùy thân và đăng ký xe mô tô của anh C. Khoảng 04 giờ 00 phút cùng ngày, K có nhắn tin cho anh C là K đã lấy trộm xe của anh C đi cầm cố. Khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày, K điều khiển xe mô tô đến cửa hàng "Anh Cóc" thuộc xóm Mãn Chiêm, phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. K gặp và bán xe mô tô trên cho anh Nguyễn Văn N (Nguyên) tại: Xóm Khuân, xã Phúc Trìu, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên với giá 20.000.000 đồng. K dùng số tiền trên để tiêu xài cá nhân hết. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, anh Đỗ Văn C đã đến Công an xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên để trình báo sự việc.
Tại Kết luận định giá tài sản số 190/KL-KTHS ngày 11/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thái Nguyên kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu xám bạc đen, BKS: 20B- 386.79, số máy: KF41E0101678, số khung: RLHKLF4106LZ100133, giá trị thiệt hại của tài sản là: 25.000.000 đồng; 01 ví da, màu đen, kích thước 23,5x9,5cm: không có cơ sở xác định giá trị của tài sản này. Tổng giá trị thiệt hại của tài sản là: 25.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Cảnh K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Lời khai nhận của K phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh, biên bản nhận dạng, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu xám bạc đen, BKS: 20B2-386.79, số máy: KF41E0101678, số khung: RLHKLF4106LZ100133; 01 ví da, màu đen, kích thước 23,5x9,5cm; 01 khóa nhãn hiệu Việt – Tiệp Look kích thước (5x5)cm; 01 khóa nhãn hiệu Việt – Tiệp Look kích thước (3x3)cm; 03 chìa khóa là chia của 02 khóa trên. Quá trình điều tra xác định, những tài sản trên là của anh Đỗ Văn C. Hiện, những tài sản trên đã được trả lại cho anh C quản lý, sử dụng.
- Phần dân sự: Anh Đỗ Văn C không có yêu cầu đề nghị gì. Anh Nguyễn Văn N đề nghị K trả lại số tiền 13.000.000 đồng.
Tại phiên toà bị cáo Đỗ Cảnh K khai nhận toàn bộ hành vi đúng như lời khai tại Cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Cảnh K phạm tội “Trộm cắp tài sản", áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 56 Bộ luật hình sự, xử phạt Đỗ Cảnh K từ 15 đến 18 tháng tù. Tổng hợp các bản án đã có hiệu lực pháp luật buộc bị cáo phải chấp hành chung cho các bản án theo quy định pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo
* Về vật chứng vụ án: Hiện tài sản đã trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì đối với bị cáo.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu đề nghị gì đối với bị cáo. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn N yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 13.000.000 đồng.
* Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Trong phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu được và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 23/7/2023, tại xóm Phú, xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên, Đỗ Cảnh K đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu xám bạc đen, BKS: 20B2-386.79, xe đã qua sử dụng của anh Đỗ Văn C trị giá 25.000.000 đồng. Sau đó, K bán xe mô tô trên cho anh Nguyễn Văn N với giá 20.000.000 đồng. Hiện xe mô tô trên đã được thu hồi và trả lại cho anh Đỗ Văn C quản lý, sử dụng. Anh C không có yêu cầu, đề nghị gì. Anh N yêu cầu K trả lại số tiền 13.000.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
Nội dung Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng… thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Do đó bị cáo phải chịu hình phạt mà Điều luật đã quy định.
. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng:
- Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, tình hình trật tự tại địa phương.
Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo có nhân thân rất xấu: + Tại Bản án số 541/2022/HSST ngày 16/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Đỗ Cảnh K 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và “Không tố giác tội phạm” . Tại Bản án số 24/2023/HSST ngày 20/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Đỗ Cảnh K 26 tháng tù về tội “ Bắt giữ người trái pháp luật, nhưng bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân, trong thời gian thi hành án đối với hai bản án trên, bị cáo lại tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt: Do cần tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền, cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi của mình nên hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện lượng khoan hồng của Nhà nước đối với bị cáo. Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp vơi tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản gì riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
. Về vật chứng vụ án: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì khác, nên không xem xét.
. Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn N(Nguyên) đã mua của bị cáo chiếc xe mô tô bị cáo trộm cắp được với giá 20.000.000đồng, nay anh N chỉ yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 13.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo nhất trí bồi thường cho anh N số tiền trên nên cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho anh N số tiền 13.000.000đồng.
. Về các vấn đề khác: Bị cáo khai bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu xám bạc đen, BKS: 20B2-386.79 do bị cáo trộm cắp được cho anh Nguyễn Văn N với giá 20.000.000 đồng. Anh N không biết tài sản trên là do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
1. Căn cứ vào : Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự:
2. Xử phạt Đỗ Cảnh K: 15( Mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 12 (mười hai) tháng tù của Bản án số 541/2022/HSST ngày 16/12/2022, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Đỗ Cảnh K về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và “Không tố giác tội phạm”; Hình phạt 26 (hai mươi sáu) tháng tù của Bản án số 24/2023/HSST ngày 20/4/2023, Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Đỗ Cảnh K về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba bản án là 53 (năm mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2022 đến 29/12/2022.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4. Trách nhiệm dân sự: ÁÁpp ddụụnngg ĐĐiiềềuu 4488 BBộộ lluuậậtt hhììnnhh ssựự;; kkhhooảảnn 22,, ĐĐiiềềuu 335577,, 446688,, 558844,, 558855,, 558866,, 558877,, 558899 BBộộ lluuậậtt ddâânn ssựự 22001155::
- Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn N số tiền 13.000.000đ(mười ba triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án; buộc bị cáo phải nộp 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 650.000đ(Sáu trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND TP. Thái Nguyên;
- Công an TP. Thái Nguyên;
- TAND tỉnh Thái Nguyên;
- THADS TP. Thái Nguyên;
- THA phạt tù;
- Bị cáo;
- Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Anh Thư Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND TP. Thái Nguyên;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- Công an TP. Thái Nguyên;
- TAND tỉnh Thái Nguyên;
- THADS TP. Thái Nguyên;
- THA phạt tù;
- Bị cáo;
- Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Anh Thư THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Anh Thư
| Nơi nhận: - VKSND TP. Thái Nguyên; - Công an TP. Thái Nguyên; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - THADS TP. Thái Nguyên; - THA phạt tù; - Bị cáo; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Lưu hồ sơ. TAND TP. THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi……. giờ…..ngày 19 tháng 03 năm 2019 Tại: Phòng nghị án – Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Anh Thư Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Lành 01 tháng 02 năm 2019 đối với: Họ và tên: Nguyễn Văn Tuấn, sinh ngày 02 tháng 01 năm 1983. Tên gọi khác: Không phố Hải Phòng. Căn cứ các Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: Kết quả biểu quyết 3/3. Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự Kết quả biểu quyết 3/3. 3.Về mức hình phạt: chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Kết quả biểu quyết 3/3. 4. Về các vấn đề khác: TTốố ttụụnngg hhììnnhh ssựự nnăămm 22001155:: thước 50cm x 40cm x 15 cm, bên trong có 01 cặp trình kí giả da màu đỏ kích thước khoảng 30cm x 40cm. Plog; Plog; Winner; Tizo; Hoa Việt. án dân sự thành phố Thái Nguyên theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 95 ngày 04/01/2019). xét 332266//22001166//UUBBTTVVQQHH nnggààyy 3300//1122//22001166,, bbuuộộcc bbịị ccááoo pphhảảii nnộộpp 220000..000000 đđồồnngg ((HHaaii ttrrăămm nngghhììnn đđồồnngg)) áánn pphhíí hhììnnhh ssựự ssơơ tthhẩẩmm vvààoo nnggâânn ssáácchh nnhhàà nnưướớcc.. kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định. Kết quả biểu quyết 3/3. Nghị án kết thúc vào hồi........giờ...... phút, ngày 19 tháng 03 năm 2019 cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Biªn b¶n nghÞ ¸n Hồi 11 giờ 30 phút, ngày 13 tháng 8 năm 2018 Tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Huy Hưởng ®èi víi các bị cáo Nông Văn Luân, Hà Sỹ Phúc C¨n cø vµo §iÒu 299 vµ §iÒu 326 Bé luËt Tè tông h×nh sù; tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: tµi s¶n” . KÕt qu¶ biÓu quyÕt: 3/3. 2. VÒ møc h×nh ph¹t: 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự; hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 11/5/2018. Văn Luân 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. đối với bị cáo Hà Sỹ Phúc. Sỹ Phúc 12 (mười hai) tháng. Thời hạn chấp hành biệp pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng tính từ ngày chấp hành bản án. KÕt qu¶ biÓu quyÕt: 3/3 3. VÒ c¸c vÊn ®Ò kh¸c: 2015. Luân giao nộp đang được bảo quản tại kho vật chứng của chi Cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý. 326/2016/PL-UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án; buộc bị cáo Nông Văn Luân, Hà Sỹ Phúc, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm. KÕt qu¶ biÓu quyÕt: 3/3 cho bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định. KÕt qu¶ biÓu quyÕt: 3/3 Héi thÈm nh©n d©n | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Anh Thư CỘNG HOÀ Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Thái Nguyên, ngày 19 tháng 03 năm 2019 2. Bà Trần Kim Liên Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2019/TLST - HS ngày Nơi đăng ký NKTT: Thôn Đại Trà, xã Đông Phương, huyện Kiến Thụy, thành Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC 1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tuấn phạm tội “Trộm cắp tài sản” 2. Về điều luật áp dụng :: Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Tuấn:18 Mười tám ) tháng tù giam. Thời hạn ** VVềề xxửử llýý vvậậtt cchhứứnngg:: ÁÁpp ddụụnngg ĐĐiiềềuu 4477 BBộộ lluuậậtt HHììnnhh ssựự;; ĐĐiiềềuu 110066 BBộộ lluuậậtt + Tịch thu tiêu hủy: 01(một) cặp vải màu đen nhãn hiệu thủ đô vàng kích + Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 05(năm) hộp bút bi nhãn hiệu lần lượt là: Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành * Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại cho người bị hại nên không xem ** VVềề áánn pphhíí:: ÁÁpp ddụụnngg kkhhooảảnn 22 ĐĐiiềềuu 113366 BBộộ lluuậậtt ttốố ttụụnngg hhììnnhh ssựự;; NNgghhịị qquuyyếếtt ** VVềề qquuyyềềnn kkhháánngg ccááoo:: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, bị hại có quyền Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử Nguyễn Anh Thư THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Thư THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Thư Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa, ông Nguyễn Quang Huy TiÕn hµnh nghÞ ¸n vụ án hình sự thụ lý số 302/2018 /HSST ngµy 18/7/2018 C¨n cø c¸c chøng cø vµ tµi liÖu ®· ® îc xem xét t¹i phiªn toµ, kết quả tranh tụng 1. VÒ téi danh: C¸c bÞ c¸o Nông Văn Luân, Hà Sỹ Phúc ph¹m téi “ Trém c¾p Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm h, i, s khoản 1 Điều Xử phạt Nông Văn Luân 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp - Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự Quyết định tạm giam bị cáo Nông Căn cứ khoản 4 Điều 91, Điều 96 Bộ luật hình sự, không áp dụng hình phạt - Áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với bị cáo Hà - Về vật chứng của vụ án: C¨n cø ĐiÒu 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS năm Tịch thu tiêu hủy 03 chìa khóa xe mô tô đã qua sử dụng do Nông Văn - Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số - Về quyền kháng cao: Các bị cáo, người đại diện cho bị cáo, người bào chữa ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ Đồng Huy Hưởng |