- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình H1 phạm tội “Tổ chức cho n ười khác ở lại Việt Nam trái phép” - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh h…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình H1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 348 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 377/2023/HS-PT Ngày: 20/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà
Các Thẩm phán:
Ông Thái Duy Nhiệm;
Bà Hoàng Thị Bích Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thành - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 20 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 276/2023/TLPT-HS ngày 07 tháng 3 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình H1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 158/2022/HSST ngày 07 tháng 10 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh N.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Đình H1 sinh ngày 01 tháng 6 năm 1996 tại huyện N9, tỉnh N; nơi cư trú: Xóm 2, xã N8, huyện N9, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình C1 và bà Nguyễn Thị Q1; có vợ Võ Thị Thủy H1 và có 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/5/2021 đến ngày 10/5/2021; bị cáo tại ngoại; Vắng mặt.
Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo Lê Trung K1, Nguyễn Duy D1 và Nguyễn Văn V1; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn M1 và ông Nguyễn Văn L1 không kháng cáo, không bị kháng nghị, không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu năm 2020, Lê Trung K1 chủ xe khách TM nhãn hiệu THACO BKS: 65B-017.81 đăng ký kinh doanh vận tải hành khách tuyến thành phố C - thành phố M, tỉnh Q và ngược lại. Đầu tháng 2 năm 2021 do dịch bệnh Covid-19 bùng phát ở hai tỉnh Q và H nên Lê Trung K1 không thể chạy xe theo tuyến đã đăng ký. Trong thời gian này Lê Trung K1 nhận được điện thoại của 03 người gồm một người tên L2 (có tài khoản Zalo “L2 Ru Bi”, sử dụng các số điện thoại 0338178628, 0562942564); Nguyễn Duy D1 (sinh năm 1998) trú khu 8, xã ĐT, huyện HH, tỉnh PT (giới thiệu tên “D2” có tài khoản Zalo “D1 La”, sử dụng số điện thoại 0842441998) và Nguyễn Đình H1 (sinh năm 1996) trú tại xóm 2, xã N8, huyện N9, tỉnh N (giới thiệu tên “H2” hoặc “H3” có tài khoản Zalo “Cheng Dong Su”, sử dụng số điện thoại 0947985259) liên lạc đến số điện thoại 0396277878, 0946626037, 0913142421 và các tài khoản Zalo “Lê Trung K1”, “Nhà xe TM” của Lê Trung K1 thuê chở khách người Trung Quốc từ Thành phố Hà Nội đi Thành phố H7 thỏa thuận chi phí vận chuyển từ 4.000.000 đồng đến 4.500.000 đồng/người, K1 đồng ý. Sau đó vào ngày 24/02/2021, Lê Trung K1 đã cùng lái xe, phụ xe chở 27 người Trung Quốc, ngày 03/3/2021 chở 58 người Trung Quốc từ công viên Yên Sở, thành phố Hà Nội đến ngã tư An Sương, thành phố H7. D2, H1 và “L2 Ru Bi” thỏa thuận thanh toán qua tài khoản của Lê Trung K1 số tài khoản: 1012448834 Ngân hàng Vietcombank (02 lần này K1 không biết là người Trung Quốc nhập cảnh trái phép).
Đến ngày 06/3/2021, Nguyễn Duy D1, Nguyễn Đình H1 và “L2” tiếp tục liên lạc qua điện thoại và tài khoản Zalo với Lê Trung K1 thỏa thuận chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép từ Thành phố Hà Nội đến Thành phố H7 chi phí 5.000.000 đồng/người. Lê Trung K1 đã trao đổi, thống nhất với D1, H1 và “L2” về số người, địa điểm dừng đón khách, số điện thoại liên lạc để D1, H1 và “L2” sắp xếp, bố trí cho xe chở khách người Trung Quốc đến giao cho K1 đưa lên xe khách để đi vào Thành phố H7, việc thanh toán tiền bằng hình thức chuyển khoản sau khi K1 chở người Trung Quốc đến Thành phố H7. Khoảng 03h00 ngày 08/3/2021, Lê Trung K1 cùng anh Nguyễn Bá T1 (lái xe), anh Bùi T2, ông Trần Văn N1 (phụ xe) điều khiển xe khách TM BKS:65B-017.81 từ thành phố C đến tại công viên Yên Sở, thành phố Hà Nội như đã thỏa thuận với “L2”, H1 và D2 (K1 thuê và trả tiền công cho anh T1 là 3.500.000 đồng/chuyến, ông N1 là 2.000.000 đồng/chuyến, anh T2 1.500.000 đồng/chuyến xe chở khách, K1 không trao đổi gì với anh T1, ông N1, anh T2 về việc chở khách người Trung Quốc nhập cảnh trái phép). Khoảng 04 giờ cùng ngày Nguyễn Duy D1 liên lạc với K1 để chở 16 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, sau đó D1 thuê Nguyễn Văn V1, sinh năm 1991, trú thôn SM, xã N9, huyện TY, tỉnh BG đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép từ huyện QV, tỉnh BN với số tiền công 2.000.000 đồng/người. Đến khoảng 06h00 cùng ngày Nguyễn Văn V1 gọi thêm Nguyễn Văn Đ1 đón và chở 08 người Trung Quốc từ Bắc Ninh đến công viên Yên Sở, Thành phố Hà Nội giao cho Lê Trung K1, 08 người Trung Quốc còn lại, D1 đã thuê người khác chở đến công viên Yên Sở, Thành phố Hà Nội giao cho K1, nhưng D1 không nhớ đã thuê ai chở. Tổng số người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, D1 giao cho K1 chở là 16 người. Tiếp đó “L2” bố trí xe ô tô chở 22 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép đến giao cho Lê Trung K1. Sau khi đón 38 người Trung Quốc của D1 và “L2” lên xe khách, K1 dùng máy điện thoại quay video những người Trung Quốc đã lên xe khách rồi gửi cho D1 và “L2” để xác nhận và thanh toán tiền. Lê Trung K1 cho xe khách đi vào Thành phố Hà Chí Minh, khi đến địa phận tỉnh Ninh Bình thì dừng xe tại một quán cơm để nghỉ ăn trưa (không nhớ rõ tên quán), K1 yêu cầu số người Trung Quốc không được xuống xe. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày Nguyễn Đình H1 liên lạc nói K1 quay xe ra Hà Nội để đón thêm khách người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, K1 đồng ý và cho xe khách quay ra Hà Nội nhưng khi đến thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam thì K1 cho xe khách dừng lại (gần cổng vào nhà máy xi măng) và liên lạc với H1 chờ để đón khách Trung Quốc. Đến khoảng 05 giờ ngày 09/3/2021 có một xe ô tô loại 16 chỗ ngồi chở 15 người Trung Quốc của H1 đến giao cho K1 đưa lên xe khách, K1 dùng điện thoại quay video những khách Trung Quốc của H1 rồi gửi cho H1 để xác nhận. Sau khi nhận tổng số 53 người Trung Quốc bố trí lên xe khách, K1 cho xe đi vào Thành phố H7. Quá trình vận chuyển người Trung Quốc, Nguyễn Duy D1 đã cho Lê Trung K1 tạm ứng trước số tiền 50.000.000 đồng bằng cách chuyển tiền vào tài khoản của K1, khi nào K1 chở khách Trung Quốc đến Thành phố H7 thì hai người sẽ tính toán sau. Nguyễn Văn V1 đã chuyển vào tài khoản của Lê Trung K1 48.000.000 đồng (theo Việt khai D1 nói Việt chuyển trả tiền cho K1, nhưng K1 khai không nhớ số tiền chuyển là bao nhiêu), còn Nguyễn Đình H1 và L2 chưa thanh toán tiền cho K1. Khi xe khách của K1 chở 53 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép đi đến km385, Quốc lộ 1A thuộc phường Quỳnh Thiện, thị xã Hoàng Mai, tỉnh N bị Đồn biên phòng Quỳnh Phương thuộc Bộ đội biên phòng tỉnh N phối hợp với các cơ quan chức năng phát hiện bắt giữ.
Ngày 01/5/2021, Nguyễn Đình H1 đến đầu thú tại Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh N. Đối với Nguyễn Duy D1, Nguyễn Văn V1 vào ngày 09 và 10/3/2021 tiếp tục nhận 11 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép để tổ chức cho họ đi vào các tỉnh phía Nam bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh phát hiện, bắt giữ và khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh Việt Nam trái phép” hiện Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh đang thụ lý giải quyết.
Nguyễn Đình H1 khai nhận: Đầu tháng 3 năm 2021 một người phụ nữ tên T3 liên lạc qua ứng dụng mạng Wechat có tài khoản là “Miss you” (người Việt Nam ở Trung Quốc) với Nguyễn Đình H1 tên tài khoản là “I love you”. T3 giới thiệu có người bạn tên M1 (người Việt Nam ở Trung Quốc) làm nghề đưa người qua lại biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Sau đó vài ngày người phụ nữ tên M1 liên lạc cho Nguyễn Đình H1 và giới thiệu là bạn của T3 (M1 sử dụng Wechat bằng chữ Trung Quốc), M1 hỏi H1 có quen nhà xe nào nhận chở khách người Trung Quốc nhập cảnh trái phép từ Hà Nội đến thành phố H7 không thì Hải nói để tìm hiểu và trả lời sau. Sau đó Nguyễn Đình H1 dùng số điện thoại 0947985259 gọi vào các số điện thoại 0913142421 và 0911013583 của nhà xe TM (do T3 cho H1 số điện thoại) thì Lê Trung K1 nghe máy, H1 trao đổi với K1 về việc chở khách người Trung Quốc nhập cảnh trái phép từ Hà Nội đến thành phố H7, K1 đồng ý và thỏa thuận tiền công là 5.000.000 đồng/người. H1 gọi điện thông báo cho M1 biết đã tìm được xe chở người Trung Quốc và chi phí vận chuyển, M1 đồng ý và nói sẽ trả công cho Hải là 2.000.000 đồng/người. Sáng ngày 08/3/2021, M1 liên lạc với Nguyễn Đình H1 yêu cầu thuê xe chở 15 khách Trung Quốc nhập cảnh trái phép từ Hà Nội vào thành phố H7. H1 sử dụng số điện thoại 0947985259 gọi điện đến số 0911013583 của Lê Trung K1 và dùng tài khoản Zalo “Cheng Dong Su” nhắn tin, gọi điện thoại cho K1 qua Zalo “Nhà xe Trà M1” để thỏa thuận việc đón khách. Đêm 08 rạng sáng ngày 09/3/2021 toàn bộ 15 khách người Trung Quốc đã được đón lên xe của Lê Trung K1, H1 không trực tiếp chở khách đến giao cho K1 mà do M1 bố trí người chở khách Trung Quốc đến giao cho Lê Trung K1. Sau khi 15 người Trung Quốc lên xe, K1 dùng điện thoại quay video rồi gửi cho H1 để xác nhận. H1 được đối tượng M1 thanh toán số tiền 20.000.000 đồng bằng cách chuyển khoản từ tài khoản mang tên Đoàn Hà T4 (làm dịch vụ đổi tiền Việt-Trung) đến tài khoản của Võ Thị Thủy H1 (vợ của H1). Chiều cùng ngày H1 được M1 thông báo số khách người Trung Quốc đã bị bắt tại Nghệ An nên đã xóa tài khoản Zalo, vứt sim điện thoại. Đến ngày 01/5/2021, H1 đến đầu thú tại Cơ quan điều tra.
Về người tên L2 sử dụng tài khoản Zalo “L2 Ru Bi” và sử dụng số điện thoại 0338178628, 0562942564 theo lời khai của Lê Trung K1 thì L2 đã nhiều lần liên lạc, nhắn tin trao đổi với K1 qua Zalo thuê K1 chở 22 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép. Ngoài ra từ đầu năm 2021, L2 đã nhiều lần dùng tài khoản Zalo “L2 Ru Bi” liên lạc cho Lê Trung K1 để thuê chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép. L2 sử dụng tài khoản ngân hàng Techcombank số 19036355355018 của người mang tên Đặng Văn T5 (sinh năm 1999) trú xã HD, huyện YH, tỉnh TQ. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối với Đặng Văn T5 để làm rõ mối liên quan với người tên L2, tuy nhiên Đặng Văn T5 không có mặt tại địa phương. Ngoài ra theo lời khai của Nguyễn Duy D1 thì tài khoản Zalo “L2 Ru Bi” và số điện thoại 0338178628 thời điểm năm 2020 là do Phạm Hồng Q2 (sinh năm 1994) trú xã ĐT, huyện HH, tỉnh PT sử dụng. Tuy nhiên từ năm 2021, Nguyễn Duy D1 không thấy Phạm Hồng Q2 sử dụng số điện thoại và Zalo này mà sử dụng số điện thoại khác có đuôi là 333. Mặt khác Lê Trung K1 khai chỉ liên lạc với tài khoản Zalo “L2 Ru Bi” và qua điện thoại, chưa gặp nhau lần nào. Cơ quan điều tra đã làm văn bản yêu cầu tra cứu thông tin chủ thuê bao, danh sách cuộc gọi, tin nhắn của số điện thoại 0338178628, 0562942564 nhưng chưa có kết quả, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, khi đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với 53 người quốc tịch Trung Quốc cư trú tại các tỉnh Giang Tây, Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Tây, Quảng Đông, Quý Châu, Hà Nam, An Huy, Hồ Nam của Trung Quốc không có giấy tờ hợp pháp thông qua mạng xã hội Wechat được người Trung Quốc (không biết lai lịch địa chỉ) hướng dẫn đi sang Việt Nam để tìm việc làm, du lịch hoặc để đi tiếp sang Campuchia. Sau đó họ được những người Trung Quốc, bố trí xe chở đến sát biên giới Việt Nam (không rõ tỉnh nào) thì có người bên phía Việt Nam đón qua nhiều chặng thì được chở đến bố trí lên xe khách của Lê Trung K1, tiếp tục di chuyển đi vào thành phố H7 của Việt Nam. Quá trình ngồi trên xe khách, người chủ xe yêu cầu số người Trung Quốc kéo rèm che kín kính chắn gió, không nói chuyện ồn ào, không được xuống xe để tránh bị công an phát hiện, đến trưa ngày 09/3/2021 thì bị cơ quan chức năng Việt Nam phát hiện bắt giữ, những người này không biết do ai tổ chức cho họ nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Sau khi bị bắt giữ, toàn bộ 53 người Trung Quốc được đưa đi cách ly y tế tại Trung tâm y tế huyện Hưng Nguyên, tỉnh N, đến ngày 30/3/2021 bị cơ quan chức năng Việt Nam trục xuất về Trung Quốc.
Nguyễn Văn D1, Nguyễn Đình H1, Nguyễn Văn V1 khai chỉ biết người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam thông qua các đối tượng có tài khoản mạng xã hội đặt vấn đề thuê chở người Trung Quốc từ Hà Nội đến thành phố H7 nên đã liên hệ, trao đổi với Lê Trung K1 đón và nhận người từ các địa điểm ở tỉnh Bắc Ninh và thành phố Hà Nội bố trí, sắp xếp lên xe khách của Lê Trung K1 đi vào thành phố H7 nhằm mục đích hưởng lợi, còn việc tổ chức cho 53 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép từ Trung Quốc vào Việt Nam thì K1, D1, H1 và Việt không biết rõ do ai tổ chức, nhập cảnh trái phép vào Việt Nam bằng cách nào.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 158/2022/HSST ngày 07 tháng 10 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh N đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình H1 phạm tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”.
Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt Nguyễn Đình H1 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 01/5/2021 đến ngày 10/5/2021. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Nguyễn Đình H1.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Lê Trung K1, Nguyễn Duy D1 và Nguyễn Văn V1, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Đình H1 kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có đơn xin hoãn phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo và quyết định mức hình phạt 05 năm tù đối với bị cáo Nguyễn Đình H1 về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 348 Bộ luật Hình sự là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo vắng mặt lần thứ 2 và có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do đang điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Phủ Diễn. Đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để đảm bảo quyền lợi của bị cáo. Trong trường hợp Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử, đề nghị căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa phúc thẩm mở lần thứ nhất ngày 11 tháng 5 năm 2023, bị cáo Nguyễn Đình H1 có đơn xin hoãn phiên tòa vì lý do sức khỏe không đảm bảo. Tại phiên tòa phúc thẩm mở lần thứ hai ngày 20 tháng 5 năm 2023, bị cáo Nguyễn Đình H1 tiếp tục có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do sức khỏe không đảm bảo đang được điều trị tại Bệnh viện đa khoa Phủ Diễn, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An nhưng không xuất trình được tài liệu chứng minh. Xét thấy sự vắng mặt của bị cáo tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị cáo.
. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo và các bị cáo khác tại cơ quan điều tra, bản tường trình, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Do hám lợi bị cáo Nguyễn Đình H1 đã có hành vi đón người Trung Quốc đã nhập cảnh trái phép vào Việt Nam từ thành phố Hà Nội đi thành phố H7 để kiếm lời. Bị cáo Nguyễn Đình H1 phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 15 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép do H1 tổ chức giao cho Lê Trung K1 chở vào thành phố H7.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Đình H1 về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 348 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú đối với người nước ngoài vào Việt Nam; tại thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội tình hình dịch bệnh Covid19 đang có những diễn biến phức tạp, nhà nước ta đang có những biện pháp nghiêm ngặt về phòng chống dịch. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi mà vẫn thực hiện nên phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi mà bị cáo gây ra.
Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Đình H1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú; bị cáo có ông nội là Nguyễn Đình T6 tham gia Thanh niên xung phong được nhà nước tặng Kỷ niệm chương chiến sỹ Trường Sơn; bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để quyết định áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H1 dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là có căn cứ.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đình H1 không được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Từ đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa.
. Về án phí: Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên.
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự,
QUYẾT ĐỊNH
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình H1. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 158/2022/HSST ngày 16/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh N.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình H1 phạm tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Nguyễn Đình H1 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 01/5/2021 đến ngày 10/5/2021.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình H1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật ngay sau khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSN8CC tại Hà Nội; - TAN8 tỉnh N; - VKSN8 tỉnh N; - Cục THADS tỉnh N; - Bị cáo (qua địa chỉ); - Lưu HS; HCTP. CÁC THẨM PHÁN Thái Duy Nhiệm Hoàng Thị Bích Hải | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu Hà THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu Hà |