vanban.org

Bản án 377/2020/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 13/08/2020 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/08/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh H: Hủy Quyết định số 4964/QĐ-UBND ngày 04/12/2018 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố C về việc giải quyết nội dung khiếu nại (lần đầu) của ông Phan Thanh H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Phan Thanh H - UBND tp C"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  • Căn cứ chính? Điều 141 Luật Đất đai; Quyết định số 62/2015/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thườn…; Điều 10 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 377/2020/HC-PT
Ngày: 13 - 8 - 2020
V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong
lĩnh vực bồi thường về đất bị thu hồi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười

Các Thẩm phán:

Ông Lê Thành Văn

Bà Trần Thị Thu Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 592/2019/TLPT-HC ngày 09 tháng 10 năm 2019.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 13/2019/HC-ST ngày 14 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 813/2020/QĐ-PT ngày 20 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Phan Thanh H, sinh năm 1953; địa chỉ: đường Ch, khóm 4, phường 5, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt)

2. Người bị kiện: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Lê Tuấn H, Chức vụ: Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố C (theo Giấy ủy quyền ngày 17/01/2019) (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Trụ sở làm việc: đường Ng, phường 9, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Lê Kim Th, sinh năm 1956 (vắng mặt)

3.2. Ông Phan Minh Tr, sinh năm 1975 (vắng mặt)

3.3. Bà Phan Thị Thúy A, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: đường Ch, khóm 4, phường 5, Thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Thanh H, sinh năm 1953; địa chỉ: đường Ch, khóm 4, phường 5, thành phố C, tỉnh Cà Mau (theo giấy ủy quyền ngày 19/4/2019)

4. Người kháng cáo: Do có kháng cáo của người bị kiện Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau

5. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 30/8/2016, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố C (viết tắt: Chủ tịch UBND Thành phố C) ra Quyết định số 2865/QĐ-UBND Phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho dự án nút giao thông B-H. Theo đó, 132,2m2 đất ông H đang sử dụng nằm trong dự án nên bị giải tỏa trắng nhưng không có Quyết định thu hồi, không bồi thường mà chỉ hỗ trợ 60% theo giá đất ở đối với 44m2 đất có nhà ở, còn lại 88,2m2 đất xây công trình phụ chỉ hoàn trả công san lấp. Ông H khiếu nại, yêu cầu phải được bồi thường về đất và được mua thêm 01 nền tái định cư. Ngày 28/10/2016 Chủ tịch UBND Thành phố C ban hành Quyết định 3611/QĐ-UBND (viết tắt: Quyết định 3611) giải quyết: Không chấp nhận khiếu nại của ông H.

Ông H cho rằng, năm 1988 ông chuyển nhượng lại nhà của bà Nguyễn Thị H, nhà do Công ty dịch vụ giống cây trồng M nay là Sở Lâm nghiệp tỉnh Cà Mau (viết tắt: Công ty giống cây trồng) hóa giá cho bà H. Gia đình ông trực tiếp sử dụng ở ổn định từ đó đến nay, không tranh chấp, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân phường 5 (BL:143/TA). Năm 2002, được sự đồng ý của UBND Thành phố C, ông sửa chữa, xây lại nhà chính ngang 04 m x dài 11m kiên cố và khang trang hơn (BL:51 – 56/TA). Ông yêu cầu phải bồi thường 100% đối với 132,2m2 theo giá đất ở hiện hành và được mua thêm 01 nền theo giá tái định cư nên ông khởi kiện ra Tòa án.

Bản án Hành chính sơ thẩm số 14/2017/HC-ST ngày 05/5/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử: Hủy Quyết định số 3611/QĐ-UBND với lý do: Trường hợp 132,2m2 đất của ông H phải được bồi thường 100% diện tích bị ảnh hưởng bởi dự án; Buộc Chủ tịch UBND Thành phố C thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật.

Kiến nghị cách thức xử lý: Lập phương án bồi thường về đất, hỗ trợ, tái định cư cho ông H theo quy định pháp luật.

Không đồng ý với quyết định của bản án, người bị kiện kháng cáo bản án. Bản án Hành chính phúc thẩm số 366/2017/HCPT ngày 13/12/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử: Không chấp nhận kháng cáo của người bị kiện; Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Thi hành bản án của Tòa án, ngày 13/7/2018 UBND Thành phố C ra Quyết định số 1235/QĐ-UBND (viết tắt: Quyết định 1235) thu hồi 132,2m2. Cùng ngày, UBND Thành phố C ra Quyết định số 2730/QĐ-UBND Phê duyệt phương án (bổ sung lần 3) bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Ngày 18/7/2018, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ra Thông báo số 320/TB-HĐBT hỗ trợ bổ sung ông H 30% đối với 88,2m2. Ông H khiếu nại, ngày 04/12/2018 Chủ tịch UBND Thành phố C ra Quyết định 4964/QĐ-UBND (viết tắt: Quyết định 4964) giải quyết: Không chấp nhận nội dung khiếu nại của ông H đòi bồi thường 132,2m2 và mua thêm 01 nền nhà tái định cư.

Không đồng ý, ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy Quyết định số 4964/QĐ-UBND; yêu cầu phải bồi thường đối với 132,2m2 theo giá đất ở hiện hành, hỗ trợ trong di dời và được mua thêm 01 nền vì trong gia đình gồm có 10 khẩu, 03 thế hệ sống chung.

Người bị kiện cho rằng, Công ty giống cây trồng hóa giá phần kiến trúc nhà cho bà H chứ không chuyển nhượng đất. Phần đất trong khuôn viên nhà hóa giá có diện tích 44m2, còn lại 88,2m2 là phần đất ông H tự lấn chiếm đất của Nhà nước quản lý (đất bảo lưu ven sông). Do đó, theo quy định không đủ điều kiện để được bồi thường về đất. Do hộ ông H đã ở ổn định trước ngày 15/10/1993 nên vận dụng quy định của điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị định 34/2013/NĐ-CP ngày 27/4/2013, điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 và Điều 25 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ hỗ trợ 60% đối với 44m2 và 30% đối với 88,2m2 theo giá đất ở đô thị hiện hành.

Về tái định cư: ông H chỉ được xem xét hỗ trợ về đất nên không đủ điều kiện tái định cư. Tuy nhiên, để đảm bảo chỗ ở nên đã bán cho ông H 01 nền tái định cư; còn việc ông H đề nghị mua thêm 01 nền tái định cư là không hợp lý.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 13/2019/HC-ST ngày 14 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, khoản 3 Điều 57, khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính;

Căn cứ khoản 1 Điều 7, Điều 9, khoản 1 Điều 18, khoản 2 Điều 33 của Luật Khiếu nại;

Căn cứ khoản 1 và 2 Điều 141, Điều 22, khoản 1 Điều 75, Điều 74, Điều 79, điểm c khoản 2 Điều 83 của Luật Đất đai 2013;

Căn cứ Điều 13 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; khoản 1 Điều 9 Nghị định 71/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ.

Áp dụng Điều 40 Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cà Mau ban hành kèm theo Quyết định 62/2015/QĐ – UBND ngày 31/12/2015 của UBND tỉnh Cà Mau;

Áp dụng khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh H:

+ Hủy Quyết định số 4964/QĐ-UBND ngày 04/12/2018 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố C về việc giải quyết nội dung khiếu nại (lần đầu) của ông Phan Thanh H.

+ Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật bồi thường về đất, bồi thường chi phí di chuyển tài sản, hỗ trợ tái định cư đối với việc thu hồi 132,2m2 đất của ông Phan Thanh H theo quy định Luật Đất đai.

Kiến nghị cách thức xử lý: Ủy ban nhân dân thành phố C có trách nhiệm lập phương án bồi thường về đất, bồi thường chi phí di chuyển tài sản, hỗ trợ tái định cư cho ông Phan Thanh H theo quy định Luật Đất đai.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Ngày 03/9/2019, người bị kiện Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm

Ngày 27/8/2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau có kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quan điểm rút toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau.

Đối với yêu cầu kháng cáo của phía người bị kiện, đại diện Viện kiểm sát cấp cao có quan điểm: Ông H sử dụng đất hợp pháp và ổn định. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ.

Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và của những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

- Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao rút kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng nghị.

- Tại phiên tòa phúc thẩm, phía người bị kiện có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử vắng mặt phía người bị kiện theo luật định.

Về nội dung kháng cáo của phía người bị kiện, xét thấy: Kháng cáo cho rằng, trong 132,2m2 đất ông H yêu cầu bồi thường thì có 44m2 đất thuộc phần nhà ông H mua hóa giá của Công ty giống cây trồng. Công ty chỉ hóa giá phần kiến trúc cho bà H chứ không hóa giá đất vì đất thuộc bảo lưu ven sông. Nếu thật sự phần đất đó mà Công ty giống cây trồng hóa giá cho bà H thì việc hóa giá đó là trái pháp luật. Thời điểm này, pháp luật về đất đai không cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nên chỉ hỗ trợ 60% đối với 44m2 là đúng quy định. Đối với 82,2m2 còn lại là lấn chiếm đất bảo lưu ven sông, nhưng tại thời điểm ông H lấn chiếm cơ quan Nhà nước không có biện pháp ngăn chặn nên ông H được hỗ trợ 30% giá đất ở là đúng pháp luật. Toàn bộ 132,2m2 đất thuộc quỹ đất do Nhà nước quản lý, không phải ông H tự chiếm nên không thuộc trường hợp phải bồi thường.

Tuy nhiên, căn cứ Luật Đất đai đã quy định, đất gồm các loại: Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối (điểm i khoản 2 Điều 13 Luật Đất đai 2003, điểm i khoản 2 Điều 10 Luật Đất đai 2013). Tại khoản 1 Điều 80 Luật đất đai 2003 và khoản 1 Điều 141 Luật đất đai 2013 quy định: Đất bãi bồi ven sông gồm, đất bãi bồi ven sông, đất cù lao trên sông. Như vậy, theo đó thì chỉ có đất sông, ngòi, kênh, rạch, đất bãi bồi ven sông, không có loại đất bảo lưu ven sông. Đồng thời, Luật đất đai quy định: Đất bãi bồi ven sông thuộc địa phận xã, phường, thị trấn nào thì UBND cấp xã đó quản lý (khoản 2 Điều 80 Luật đất đai 2003, khoản 2 Điều 141 Luật đất đai 2013). Trong khi đó, chứng cứ tại hồ sơ thể hiện 132,2m2 đất thuộc địa phận phường 5 nhưng UBND phường 5 không quản lý, sử dụng phần đất này (BL:143/TA). Đồng thời, người bị kiện cũng không đưa ra được chứng cứ để chứng minh rằng diện tích 132,2m2 đất này tại thời điểm (năm 1988) ông H lấn chiếm, sử dụng và phần đất này Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền đã có giao cho cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng; hoặc đã có lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng phần đất này và đã công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai (Điều 9 Luật Đất đai 1987, Điều 13 Luật Đất đai 1993, Điều 6 Luật Đất đai 2003 và Điều 22 Luật Đất đai 2013).

Tại phiên tòa sơ thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện cho rằng, phần đất ông H sử dụng UBND tỉnh Cà Mau đã có quy hoạch sử dụng được thể hiện tại Quyết định số 613-QĐ/UB ngày 23/10/1995. Tuy nhiên, nội dung của Quyết định này thể hiện quy hoạch khu nhà ở phường 5 và cũng chỉ giới hạn: Đông giáp khu nhà ở H; Tây giáp Khu trung tâm thị xã C; Bắc giáp Kinh X; Nam giáp khu nhà ở phường 6 mà không ảnh hưởng gì đến phần đất ông H đang sử dụng. Đồng thời Quyết định phê duyệt này ban hành sau thời điểm ông H quản lý, sử dụng đất đến 07 năm.

Bên cạnh đó, quá trình ông H sử dụng đất từ năm 1988 cho đến khi bị thu hồi thì không có cơ quan nào lập biên bản đối với ông H về hành vi vi phạm lấn chiếm đất. Trong khi ông H đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người sử dụng đất theo Luật Đất đai quy định, như: Sử dụng đất đúng mục đích, thực hiện nghĩa vụ thuế, kê khai ở Sổ mục kê, đầu tư làm tăng giá trị của đất, bồi đắp phần đất thấp thành thổ cư (BL: 66, 138). Hơn nữa ông H lại được UBND Thành phố C cấp Giấy phép sửa chữa nhà vào năm 2002 và sửa chữa lại nhà kiên cố hơn trước (BL: 51-56/TA). Như vậy, 132,2m2 đất ông H sử dụng ổn định từ năm 1988, có nguồn gốc rõ ràng, không tranh chấp. Việc sử dụng đất của ông H tại thời điểm năm 1988 không vi phạm quy hoạch, không vi phạm pháp luật về sử dụng đất đai. Đối chiếu Luật Đất đai thì trường hợp của ông H thuộc điều kiện được bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất theo quy định tại khoản 1 Điều 75 và Điều 74 Luật Đất đai 2013.

Đối với yêu cầu của ông H về việc hỗ trợ tái định cư: Khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai 2013 quy định các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm: Hỗ trợ ổn định, đời sống và sản xuất; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm; hỗ trợ tái định cư; hỗ trợ khác. Ông H chỉ có 132,2m2 đất ở và bị thu hồi, trường hợp này được hỗ trợ tái định cư theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai 2013.

Ngoài ra tại Điều 40 – Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cà Mau ban hành kèm theo Quyết định 62/2015/QĐ – UBND ngày 31/12/2015 của UBND tỉnh Cà Mau quy định: Khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển tài sản thì được Nhà nước bồi thường chi phí để tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt. Do đó, trường hợp của ông H được bồi thường chi phí về di chuyển tài sản.

Từ những căn cứ trên, xét thấy: UBND Thành phố C thu hồi 132,2m2 đất của ông H nhưng không bồi thường về đất mà chỉ thực hiện hỗ trợ là thực hiện chưa đúng với quy định của Luật Đất đai. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H: Hủy Quyết định 4964/QĐ-UBND, buộc UBND Thành phố C phải lập phương án bồi thường về đất, bồi thường di chuyển tài sản và phải hỗ trợ tái định cư cho ông H theo trường hợp bồi thường đất ở bị thu hồi là có là có căn cứ và đúng pháp luật.

Yêu cầu kháng cáo của người bị kiện là không có cơ sở để chấp nhận.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Do kháng cáo không được chấp nhận, vì vậy người bị kiện phải chịu án phí phúc thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính;

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 13/2019/HC-ST ngày 14/8/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

Căn cứ khoản 1 và 2 Điều 141, Điều 22, khoản 1 Điều 75, Điều 74, Điều 79, điểm c khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai 2013;

Căn cứ Điều 13 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; khoản 1 Điều 9 Nghị định 71/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ.

Áp dụng Điều 40 – Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cà Mau ban hành kèm theo Quyết định 62/2015/QĐ – UBND ngày 31/12/2015 của UBND tỉnh Cà Mau;

Áp dụng khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh H:

+ Hủy Quyết định số 4964/QĐ-UBND ngày 04/12/2018 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố C về việc giải quyết nội dung khiếu nại (lần đầu) của ông Phan Thanh H.

+ Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật bồi thường về đất, bồi thường chi phí di chuyển tài sản, hỗ trợ tái định cư đối với việc thu hồi 132,2m2 đất của ông Phan Thanh H theo quy định Luật Đất đai.

Kiến nghị cách thức xử lý: Ủy ban nhân dân thành phố C có trách nhiệm lập phương án bồi thường về đất, bồi thường chi phí di chuyển tài sản, hỗ trợ tái định cư cho ông Phan Thanh H theo quy định Luật Đất đai.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo biên lai thu số 00390 ngày 04/9/2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN

Cỡ chữ