- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "Tranh chấp về hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và vay tài sản"
- Tòa quyết gì? C n cứ vào các Điều 117, Điều 328 của Bộ luật D n sự; Điều 26, điểm a hoản 1 Điều 35, điểm c hoản 1 Điều 39, Điêu 73, Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 189, Điều 200, Điều 201, Điều 227, hoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng d n sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30…
| T A N NH N D N TỈNH ĐỒNG TH P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 376/2023/DS-PT Ngày: 15-8-2023 V/v tranh chấp về hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA N NH N D N TỈNH ĐỒNG TH P
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Nguyễn Ngọc Vạng.
Các Thẩm phán:
ng Sỹ Danh Đạt;
ng Ngô Tấn Lợi.
- Thư ký phiên tòa: ng Nguyễn Bảo Quốc - Thư ý T a án nh n d n t nh Đồng Tháp.
- Đ i di n Vi n Ki m sát nhân dân t nh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Ngọc Trang - iểm sát viên tham gia phiên t a.
Trong các ngày 05/7, 21/7 và 14/8 và 15/8/2023, tại trụ sở T a án nh n d n t nh Đồng Tháp x t xử phúc th m công hai vụ án thụ lý số 148/2023/TLPT-DS ngày 24 tháng 4 n m 2023 về Tranh chấp về hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và vay tài sản”.
Do bản án d n sự sơ th m số 12/2023/DS-ST ngày 09 tháng 3 n m 2023 của T a án nh n d n thành phố Cao Lãnh bị háng cáo, háng nghị.
Theo quyết định đưa vụ án ra x t xử phúc th m số 261/2023/QĐ-PT ngày 24 tháng 5 n m 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ng Nguyễn V n N, sinh n m 1975; địa ch : Số nhà E, Tổ F, hóm M, phường M, thành phố C, t nh Đồng Tháp. (Có mặt ngày 14/8/2023)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông N: Luật sư Hoàng Thanh S – V n ph ng Luật sư Hoàng Thanh S và Cộng sự; địa ch : Số F ngách G, đường C, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
2. Bị đơn: ng Trần Thanh T, sinh n m 1977; địa ch : Số nhà A, đường H, hóm M, phường M, thành phố C, t nh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Vũ Tuấn A, sinh n m 1970; địa ch : Số nhà A, đường C, Phường C, thành phố C, t nh Đồng Tháp. (Có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị D, sinh n m 1965; (Có mặt)
3.2. Bà Nguyễn Thị V, sinh n m 1964; (Có mặt ngày 05/7, 21/7, 14/8; vắng mặt ngày 15/8/2023)
3.3. Ông Nguyễn V n C, sinh n m 1969. (Vắng mặt)
Cùng địa ch : Số nhà E, Tổ F, hóm M, thành phố C, t nh Đồng Tháp.
4. Người háng cáo:
Ông Nguyễn V n N là nguyên đơn;
Bà Nguyễn Thị D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
Bà Nguyễn Thị V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
5. háng nghị: Viện trưởng Viện iểm sát nh n d n t nh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ N:
- Ông Nguyễn Văn N trình bày: Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất ngày 01/02/2021 giữa ông Nguyễn V n N và ông Trần Thanh T là vô hiệu. Đồng thời, yêu cầu ông Trần Thanh T nhận lại số tiền cọc theo giấy giao nhận tiền cọc mua bán nhà đất số tiền 4.000.000.000 đồng cụ thể: Số tiền 3.160.000.000 đồng nhận ngày 01/02/2021 theo Giấy giao nhận tiền đặt cọc mua bán nhà đất. Số tiền 840.000.000 đồng nhận ngày 25/02/2021.
Ngày 01/02/2021, ông nhận của ông Trần Thanh T số tiền 3.160.000.000 đồng để chuyển nhượng cho ông T quyền sử dụng đất ngang 15m, dài 30m, mặt tiền đường Đ, giá chuyển nhượng là 3.000.000.000 đồng bằng Giấy giao nhận tiền đặt cọc mua bán nhà đất. Việc ý ết và nhận tiền đặt cọc có sự chứng iến của ông Trương Hoài H. Trong giấy giao nhận tiền đặt cọc có nêu: “Trong trường hợp nếu bên B (Nguyễn Văn N) không bán cho bên A (Trần Thanh T) có trách nhiệm bồi thường gấp ba lần theo quy định của pháp luật”.
Thời điểm trước ngày 01/02/2021 ông và ông T cũng đã thỏa thuận thực hiện giao dịch d n sự có điều iện đối với việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là: ng T hông được tiết lộ thông tin về việc mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông và ông T để ông thực hiện việc cấp đổi lại quyền sử dụng đất của cha mẹ ông. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án ông hông cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nội dung thỏa thuận này. Như vậy, ông Trần Thanh T hi giao dịch với ông đã biết rõ thửa đất mà hai bên chuyển nhượng là đang thuộc quyền sử hữu của ông Nguyễn V n N1 (cha ông Ngay đã chết) được quyền sử dụng 13.330m2 đất tại xã M, thị xã C, t nh Đồng Tháp do Ủy ban nh n d n thị xã C, t nh Đồng Tháp cấp ngày 10/5/1995 nhưng vẫn tiến hành ý ết hợp đồng đặt cọc.
Sau đó, ông tiếp tục đồng ý chuyển nhượng thêm 5m bề ngang, dài 30m, giá là 1.000.000.000 đồng. Ngày 25/02/2021, ông nhận số tiền là 840.000.000 đồng. Trong giấy biên nhận có ghi rõ nhận đủ số tiền 4.000.000.000 đồng cho hợp đồng chuyển nhượng thửa đất mặt tiền Điện Biên P, chiều ngang 20m, dài 30m.
Tuy nhiên, trong quá trình giao ết hợp đồng, ông T đã hông thực hiện đúng theo thỏa thuận, vi phạm nghĩa vụ giữa các bên. Cụ thể ngày 31/03/2021 ông phát hiện việc ông T đã tiết lộ thông tin với bên thứ ba là ông Nguyễn Hữu C1, do đó anh chị em trong gia đình ông là bà Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị V biết rõ nên hông đồng ý cho ông chuyển nhượng diện tích đất cho ông Trần Thanh T.
Sáng ngày 03/4/2021, ông có hẹn ông Trần Thanh T để thỏa thuận giải quyết về vấn đề này và đề nghị chấm dứt hợp đồng nhưng ông T hông đồng ý thỏa thuận.
Ngày 03/4/2021, ông T có hành vi g y rối trật tự, g y sức p về tinh thần và x m phạm chỗ ở của gia đình và phía anh em ông, buộc ông và gia đình phải thực hiện hợp đồng, g y ảnh hưởng đến quyền lợi của người th n gia đình ông về quyền bất hả x m phạm chỗ ở của công d n như g y ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Ngày 03/4/2021, ông có đơn yêu cầu luật sư với Công ty L để cử đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thực hiện các thủ tục pháp lý trong vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán giữa ông và ông Trần Thanh T. Cùng ngày Công ty L đã gửi thông báo số 28/2021/TB-ADL cho ông Trần Thanh T đề nghị chấm dứt thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và trả lại tiền đặt cọc. Tuy nhiên, hết thời gian thông báo số 28/2021/TB-ADL ông T hông đồng ý nhận tiền đặt cọc và chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trước đó hai bên đã thoả thuận.
Đơn hởi iện đề tháng 4 n m 2021, ông N nộp cho Toà án ngày 31/5/2021 có nội dung tương tự như trên, tuy nhiên đơn hởi iện này ông N hông có ý tên vào phần người hởi iện.
Biên bản lấy lời hai ngày 12/8/2022 và V n bản trình bày ý iến ngày 10/02/2023, ông N trình bày phần đất ông thoả thuận chuyển nhượng cho ông Trần Thanh T là phần đất do cha mẹ ông là ông Nguyễn V n N1 và bà Trần Thị Đ để lại nhưng những người thừa ế của ông N1 và bà Đ chưa chia. ng N1 và bà Đ có 04 người con gồm ông, bà D, bà V, ông C. Tuy nhiên, ông là hàng thừa ế thứ nhất của ông N1, bà Đ nên ông có phần thừa ế vì vậy ông thoả thuận chuyển nhượng cho ông T. Ngoài ra, ông có giấy uỷ quyền của bà D, bà V, ông C uỷ quyền cho ông thay mặt đến cơ quan nhà nước làm thủ tục thừa ế từ ông N1, bà Đ do vậy nên ông chắc chắn được hưởng một phần đất nên khi ông T hỏi mua thì ông đồng ý. Lý do ông thoả thuận chuyển nhượng đất với ông T là do hi ông đi uống cà phê với nhiều người bạn trong đó có ông T thì ông nói là có đất định bán nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chưa làm thừa ế từ cha mẹ. ng T nghe qua thì đồng ý chuyển nhượng và đồng ý đợi ông N hoàn tất thủ tục giấy tờ thì ông N mới sang tên cho ông T
ng có nói với ông T hi nào hoàn tất thủ tục cấp giấy và hưởng thừa ế sẽ sang tên cho ông T. Tuy nhiên, ông và ông T đã xảy ra m u thuẫn tranh chấp nên dù có được hưởng thừa ế thì ông cũng hông đồng ý chuyển nhượng cho ông T. ng hông có yêu cầu gì hác đối với bà Nguyễn Thị D.
Đối với yêu cầu của ông Trần Thanh T 210.000.000 đồng và yêu cầu lãi suất là 0,83%/tháng từ ngày hởi iện đến hi trả hết nợ của ông T. Trong Đơn trình bày ý iến ngày 06/6/2022, ông cho rằng số tiền này hông liên quan gì đến vụ việc và ông chưa vi phạm thoả thuận này, nếu ông T có ý iến thì yêu cầu ông T đưa vụ việc này ra pháp luật trong vụ iện hác. Tuy nhiên, trong biên bản lấy lời hai ngày 12/8/2022, ông N thừa nhận hoản nợ này và thống nhất trả số tiền 210.000.000 đồng và lãi suất theo quy định.
Tại phiên t a, người đại diện theo uỷ quyền của ông N và ông N có đơn xin x t xử vắng mặt nên hông cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì hác.
- Ông Trần Thanh T và người đại diện theo ủy quyền của ông T là anh Vũ Tuấn A trình bày: Đơn hởi iện đề ngày 07/4/2021, nguyên đơn Trần Thanh T yêu cầu: Buộc ông N tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng phần đất có diện tích 600m2 có chiều ngang 20m x dài 30m, thuộc thửa số 71, tờ bản đồ số 19, đất tọa lạc tại phường M, thành phố C, t nh Đồng Tháp.
Đơn yêu cầu phản tố đề ngày 14/4/2022, ông T yêu cầu: Buộc ông N phải trả cho ông số tiền mượn là 210.000.000 đồng và yêu cầu lãi suất là 0,83%/tháng từ ngày hởi iện đến hi trả hết nợ.
Ông T trình bày c n cứ cho yêu cầu hởi iện:
Ngày 01/02/2021, ông N có thỏa thuận bán cho ông một phần đất ngang 15m x dài 30m tại mặt tiền đường Đ, phường M, thành phố C, t nh Đồng Tháp với giá 3.000.000.000 đồng. ng đã giao tiền cọc cho ông N 3.160.000.000 đồng, ông N ý nhận vào Giấy giao nhận tiền cọc mua bán nhà, đất trước sự chứng iến của ông Trương Hoài H.
Ngày 25/02/2021, ông N tiếp tục đồng ý chuyển nhượng thêm phần đất liền ề ngang 5m x dài 30m với giá 1.000.000.000 đồng, ông đã giao thêm tiền cọc cho ông N là 840.000.000 đồng, ông N cũng ý xác nhận đã nhận tiền.
Như vậy, tổng cộng ông N đã thỏa thuận bán cho ông phần đất tại mặt tiền đường Đ ngang 20m x dài 30m, nhận đủ số tiền cọc là 4.000.000.000 đồng. Đ y chính là số tiền bán toàn bộ phần đất. ng N cũng cam ết nếu hông bán thì bồi thường gấp 03 lần số tiền cọc đã nhận cho ông.
hi thỏa thuận chuyển nhượng thì ông N có cho ông xem và chụp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 13.330m2 đất toạ lạc tại xã M, thị xã C do Ủy ban nh n d n thị xã C cấp cho ông N1 là cha ông Ngay ngày 10/5/1995 và Biên bản họp gia đình được Ủy ban nh n d n phường M, thành phố C chứng thực chữ ý ngày 19/5/2020 thể hiện bà V, bà D, ông C giao cho ông N thực hiện các quyền và nghĩa vụ thừa ế từ cha ruột là cụ Nguyễn V n N1 và mẹ ruột là cụ Trần Thị Đ.
Theo bản đồ chính quy thì phần đất mà ông N thỏa thuận chuyển nhượng cho ông thuộc thửa số 71, tờ bản đố số 19, cũng theo ông N thì phần diện tích đất này ông N nhận thừa ế và hiện ông N đang làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Cuối tháng 03/2021, ông N lấy lý do ông tiết lộ thông tin về việc mua bán đất với người thứ ba nên hông đồng ý chuyển nhượng đất. ng cho rằng thực tế là do giá đất biến động t ng nên ông N đã nại lý do để cố tình hông thực hiện việc chuyển nhượng đất.
ng hông đồng ý đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất giữa ông N và ông ngày 01/02/2021 vô hiệu. Trường hợp ông N không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông thì phải bồi thường số tiền theo thỏa thuận trong giấy giao tiền cọc và theo quy định pháp luật. ng ch yêu cầu ông N có trách nhiệm trả tiền cọc và bồi thường, hông yêu cầu bà D, bà V, ông C cùng liên đới.
Ngoài ra, từ ngày 05/3/2021 đến ngày 26/3/2021 ông có cho ông N mượn tiền nhiều lần với số tiền là 210.000.000 đồng. Việc mượn hông có làm biên nhận nhưng ông N có xác nhận bằng tin nhắn điện thoại từ số thuê bao 0944 706 633 của ông N đến số điện thoại của ông 0916 471 507. ng đã nhiều lần yêu cầu ông N trả tiền nhưng ông N ch tìm cách hứa hẹn cho qua chuyện mà hông thực hiện.
- Bà Nguyễn Thị D và Nguyễn Thị V trình bày: Việc thỏa thuận chuyển nhượng giữa ông N và ông T, bà D và bà V hông biết và hông đồng ý việc chuyển nhượng giữa ông N và ông T. Do phần đất ông N chuyển nhượng cho ông T là đất của cha mẹ là ông N1 và bà Đ để lại chưa ph n chia thừa ế nên hông thống nhất việc mua bán chuyển nhượng của ông N và ông T.
Tại phiên t a, bà D, bà V hông cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì hác, hông có yêu cầu nào hác, hông có yêu cầu th m định, định giá lại.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà V có nộp đơn yêu cầu độc lập đề ngày 04/5/2022, ông Nguyễn V n N1 và bà Trần Thị Đ có 04 người con gồm Nguyễn Thị D, Nguyễn V n C, Nguyễn V n N, Nguyễn Thị V cùng sống chung trên phần đất tại Tổ F, hóm M, phường M, thành phố C, t nh Đồng Tháp. N m 2017, ông N1 chết hông để lại di chúc. N m 2019, bà Đ chết hông để lại di chúc. Đến nay phần di sản để lại chưa được ph n chia thừa ế cho 04 người con theo quy định. Bà và các thành viên c n lại trong gia đình cũng chưa thỏa thuận với nhau việc nhận di sản và xác định phần di sản mà mỗi người nhận được bao gồm những gì. Như vậy, ông N chưa đủ điều iện để thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bà và các thành viên c n lại trong gia đình hoàn toàn hông biết việc thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N và ông T, hông có trực tiếp tham gia việc thực hiện giao ết hợp đồng. Nay bà yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N và ông T là vô hiệu đối với phần đất diện tích 600m2 có chiều ngang 20m x dài 30m, thuộc thửa số 71, tờ bản đồ số 19, toạ lạc tại phường M, thành phố C, t nh Đồng Tháp. Đề nghị ông N và ông T hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo đúng quy định của pháp luật tại Điều 131 Bộ luật D n sự 2015. Bà hông đồng ý với lời cam ết trong hợp đồng đặt cọc Nếu bên B hông bán cho bên A thì bên B có trách nhiệm bồi thường gấp 03 lần theo quy định của pháp luật” bởi vì việc giao nhận tiền giữa ông N và ông T, bà và các thành viên c n lại hoàn toàn hông biết và số tiền chuyển nhượng, đền bù phần đất quá cao, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của anh chị em bà.
Đơn trình bày ý iến ngày 03/6/2022, bà V trình bày phần đất tranh chấp ch có bà, bà D, ông N, ông C trực tiếp quản lý sử dụng ngoài ra hông c n ai khác.
Tại Bản án sơ th m số 12/DS-ST ngày 09/3/2023 của T a án nh n d n thành phố Cao Lãnh đã quyết định:
hông chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn ông Nguyễn V n N về việc tuyên bố hợp đồng đặt cọc là Giấy giao nhận tiền đặt cọc mua bán nhà đất ngày 01/2/2021” giữa ông Nguyễn V n N và ông Trần Thanh T là vô hiệu.
hông chấp nhận yêu cầu của ông Trần Thanh T về việc yêu cầu ông Nguyễn V n N tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng phần đất có diện tích qua đo đạc thực tế nằm trong các mốc 1,2,3,4,8,7,1 có diện tích 772m2, thuộc một phần thửa số 71, tờ bản đồ số 19, đất tọa lạc tại phường M, thành phố C, t nh Đồng Tháp.
Buộc ông Nguyễn V n N trả lại số tiền đặt cọc và bồi thường tiền cọc cho ông Trần Thanh T số tiền tổng cộng là 11.160.000.000 đồng (mười một tỷ một tr m sáu mươi triệu đồng).
Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Thanh T về việc yêu cầu ông Nguyễn V n N phải trả số tiền vay 210.000.000 đồng và yêu cầu lãi suất là 0,83%/tháng từ ngày nộp đơn hởi iện là ngày 14/4/2022 đến ngày x t xử sơ th m 09/3/2023 là 17.430.000 đồng. Tổng cộng, buộc ông Nguyễn V n N phải trả số tiền vay và tiền lãi cho ông Trần Thanh T số tiền 227.430.000 đồng (hai tr m hai mươi bảy triệu bốn tr m ba mươi ngàn đồng).
ể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các hoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án c n phải chịu hoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại hoản 2 Điều 468 của Bộ luật d n sự n m 2015.
(Kèm theo biên bản xem xét thẩm định, tại chỗ ngày 12/01/2022; sơ đồ đo đạc theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/01/2022).
Ngoài ra, bản án c n tuyên về án phí, chi phí xem x t, th m định tại chỗ và định giá tài sản, quyền và thời hạn háng cáo, quyền, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
- Sau hi x t xử sơ th m, ông Nguyễn V n N, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị V kháng cáo yêu cầu x t xử theo hướng hủy bản án sơ th m số 12/2023/DS-ST ngày 09 tháng 3 n m 2023 của T a án nh n d n thành phố Cao Lãnh, t nh Đồng Tháp.
Viện trưởng Viện iểm sát nh n d n t nh Đồng Tháp háng nghị đề nghị T a án nh n d n t nh Đồng Tháp x t xử phúc th m vụ án theo hướng sửa bản án sơ th m.
- Tại phiên t a phúc th m:
+ Ông Nguyễn V n N, bà Nguyễn Thị D và bà Nguyễn Thị V trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
+ Ông Vũ Tuấn A trình bày: Ông Trần Thanh T không thỏa thuận được với ông Nguyễn V n N về giải quyết vụ án.
Đại diện Viện iểm sát nh n d n t nh Đồng Tháp phát biểu ý iến về giải quyết vụ án:
+ Về tố tụng: Th m phán, Hội đồng x t xử, Thư ý và các đương sự, đều thực hiện đúng quy định của pháp luật.
+ Về nội dung: Việc giao dịch đặt cọc chuyển nhượng QSDĐ giữa ông N và ông T là trái quy định, vì hi thỏa thuận chuyển nhượng đất, ông T và ông N đều biết rõ ông N chưa được cấp QSDĐ nên theo quy định tại Điều 167 Luật đất đai thì ông N chưa có quyền chuyển nhượng, vì vậy giao dịch bị vô hiệu ngay từ đầu. Đề nghị chấp nhận Quyết định háng nghị của Viện iểm sát nh n d n t nh Đồng Tháp; chấp nhận một phần háng cáo của ông Nguyễn V n N. Đối với háng cáo của bà Nguyễn Thị D và bà Nguyễn Thị V yêu cầu hủy bản án sơ th m là hông có cơ sở, nên hông chấp nhận háng cáo của bà Nguyễn Thị D và bà Nguyễn Thị V. Sửa một phần bản án sơ th m. Buộc ông Nguyễn V n N phải trả cho ông Trần Thanh T số tiền 4.227.430.000đ.
Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được th m tra tại phiên t a và c n cứ vào ết quả tranh tụng tại phiên t a.
NHẬN ĐỊNH CỦA T A N:
[1] Ông N hởi iện ông T về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ); ông T có yêu cầu phản tố tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, T a án nh n d n thành phố Cao Lãnh thụ lý giải quyết là đúng th m quyền. ng N, bà D, bà V háng cáo trong thời hạn nên chấp nhận. Ông T ủy quyền cho ông Tuấn A, thủ tục ủy quyền tham gia tố tụng tại cấp phúc th m phù hợp quy định nên chấp nhận. ng Nguyễn V n C được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên x t xử theo quy định.
[2] Theo đơn hởi iện ngày 20/4/2021 của ông N trình bày số tiền nhận của ông T là tiền thỏa thuận đặt cọc để chuyển nhượng QSDĐ đối với phần đất ngang 20m dài 30m một phần thửa số 71 tờ bản đồ số 19 (đo đạc thực tế diện tích 772m2), giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho cụ N2 (cha của ông N) ngày 10/5/1995. Nay ông N hông đồng ý chuyển nhượng QSDĐ cho ông T và yêu cầu tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu, yêu cầu ông T nhận lại tiền đặt cọc.
Ông T trình bày số tiền 4.000.000.000đ giao cho ông N là tiền đặt cọc để chuyển nhượng QSDĐ hi ông N được cấp giấy chứng nhận, nhưng ông N hông thực hiện đúng cam ết nên phải hoàn trả lại tiền cọc và bồi thường tiền theo thỏa thuận.
Nhận thấy, ông T và ông N giao nhận tiền mục đích là đặt cọc nhằm giao ết về việc ông N thực hiện ý ết hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ cho ông T là có cơ sở, bởi vì: ng N và ông T đều thừa nhận Giấy giao nhận tiền đặt cọc mua bán nhà đất ghi ngày 01/02/2021 do hai bên cùng ý tên là hoàn toàn tự nguyện. Nội dung thể hiện ông T giao đủ tiền cho ông N nhận số tiền cọc 3.160.000.000đ, số tiền này sẽ được trừ vào số tiền mua bán hi hai bên thực hiện thủ tục công chứng hợp đồng mua bán đất tại cơ quan công chứng có th m quyền và giao nhận tiền mua bán. Lý do đặt cọc là để thực hiện mua bán QSDĐ chiều ngang 15m chiều dài 30m tại mặt tiền đường Điện Biên phủ”. Giá chuyển nhượng là 03 tỷ đồng cho chiều ngang 15m chiều dài 30m, nếu sang nhượng thêm 05m thì cộng tiền thêm theo giá như trên. Ngày 25/02/2021, ông N có nhận thêm số tiền 840.000.00đ của ông T và việc nhận số tiền này thì cũng có viết giấy đưa cho ông N ý tên, với nội dung là nhận đủ số tiền 04 tỷ đồng cho hợp đồng chuyển nhượng thửa đất mặt tiền đường Đ chiều ngang 20m chiều dài 30m (giá chuyển nhượng ngang 5m dài 30m là 01 tỷ đồng). Qua nội dung trên cho thấy, việc thỏa thuận có lập thành v n bản (nội dung do ông T viết), theo đó giao tiền lần thứ nhất là để đặt cọc để nhận chuyển nhượng phần đất chiều ngang 15m dài 30m giá 3.000.000.000đ nhưng số tiền cọc 3.160.000.000đ và dự iến chuyển nhượng thêm; giao tiền lần thứ hai 840.000.000đ vào ngày 25/02/2021 cũng là tiền cọc để nhận chuyển nhượng phần đất chiều ngang 05m dài 30m giá 1.000.000.000đ, mục đích hai lần đặt cọc để tiến đến ý ết hợp đồng chuyển nhượng hai phần đất ngang 15m dài 30m và ngang 05m dài 30m (số tiền đặt cọc tương ứng giá trị đất). Tại biên bản lấy lời hai ngày 12/8/2022, ông N trình bày như sau: Nay ông N chỉ đồng ý trả lại cho ông T đủ 4.000.000.000 đồng tiền đặt cọc đã nhận và tiền lãi theo quy định pháp luật từ ngày 25/02/2021”. Như vậy ông N thừa nhận số tiền giao nhận giữa ông T và ông N toàn bộ là tiền đặt cọc. Tại phiên t a phúc th m ông N xác nhận có nhận số tiền 4.000.000.000đ nhưng hông phải là tiền đặt cọc và cho rằng ông T đã thanh toán tiền chuyển nhượng QSDĐ. Trong hi đó tại biên bản lấy lời hai ngày 12/8/2022, ông N trình bày là hi ông đi uống cà phê với nhiều người bạn trong đó có ông T, thì ông N có nói là ông có đất định bán nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ và chưa làm thừa ế từ cha mẹ. Ông T nghe qua đồng ý chuyển nhượng và đồng ý đợi ông N hoàn tất thủ tục giấy tờ thì ông N mới sang tên cho ông T; theo giấy thỏa thuận ngày 01/02/2021 quy định số tiền đặt cọc sẽ được trừ vào số tiền mua bán hi hai bên thực hiện thủ tục công chứng hợp đồng mua bán đất tại cơ quan công chứng có th m quyền và giao nhận tiền mua bán. Trên thực tế thì chưa có v n bản nào thể hiện là hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ do ông N và ông T chính thức cùng ý tên. Tại phiên t a phúc th m ông N cũng hông cung cấp được chứng cứ mới chứng minh số tiền đã nhận là do ông T thanh toán tiền chuyển nhượng đất như ông N trình bày nói trên.
[3] Ông N yêu cầu tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu là hông có cơ sở, bởi vì: ng N cho rằng theo thỏa thuận thì ông T hông được tiết lộ thông tin việc chuyển nhượng nhưng ông Tuấn A hông thừa nhận và ông N cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh thỏa thuận này. Ngoài ra ông N còn cho rằng, ông T biết rõ đất của cụ N2 được cấp giấy chứng nhận QSDĐ ngày 10/5/1995 nhưng vẫn ý hợp đồng đặt cọc nên hợp đồng vô hiệu là hông phù hợp, vì đặt cọc là giao ết bảo đảm cho việc tiến đến ý ết hợp đồng theo thỏa thuận hi ông N được đứng QSDĐ.
Mặt hác, ông N cung cấp cho ông T Biên bản họp gia đình ngày 18/5/2020, các anh chị em giao cho ông N liên hệ cơ quan có th m quyền để thực hiện việc nhận thừa ế QSDĐ của vợ chồng cụ N2 và cho ông T xem giấy chứng nhận mang tên cụ N2. Qua đó thể hiện ý chí của ông N muốn nhận số tiền cọc đúng giá trị phần đất cần chuyển nhượng và sau hi ông N được QSDĐ theo quy định của pháp luật mới ý hợp đồng chuyển nhựơng với ông T, vì vậy ông T tin tưởng đợi ý hợp đồng chuyển nhượng. Thỏa thuận đặt cọc phù hợp quy định của pháp luật, nhưng ông N hông thực hiện cam ết và hẳng định nếu ông được QSDĐ cũng hông chuyển nhượng cho ông T là vi phạm và có lỗi nên phải bồi thường là phù hợp.
T a án cấp sơ th m xác định số tiền 3.160.000.000đ, ông N đã cam ết nếu hông chuyển nhượng đất cho ông T thì phải bồi thường số tiền gấp ba lần (ghi nhận tại giấy giao nhận tiền cọc ngày 01/02/2021) và đối với số tiền cọc 840.000.000đ nhận ngày 25/02/2021 phải có trách nhiệm bồi thường một hoản tiền tương đương số tiền đặt cọc (840.000.000đ) là phù hợp quy định tại Điều 328 Bộ luật d n sự n m 2015. Tổng số tiền phải trả cho ông T là 11.160.000.000đ (3.160.000.000đ x 3 = 9.480.000.000đ; 840.000.000đ x 2 = 1.680.000.000đ). Do đó yêu cầu háng cáo của ông N là hông có cơ sở.
Đối với số tiền vay: Tại phiên t a phúc th m ông N xác định hông có kháng cáo nên không xem xét.
X t háng cáo của ông N, bà D và bà V yêu cầu hủy bản án sơ th m nhưng tại phiên t a phúc th m ông N, bà D và bà V thừa nhận hông có chứng cứ chứng minh Hội đồng x t xử sơ th m vi phạm nguyên trọng hi ban hành bản án ảnh hưởng quyền lợi của ông N, bà D và bà V. Vậy háng cáo của ông N, bà D và bà V là hông có cơ sở.
[4] X t Quyết định háng nghị: Nhận thấy việc ông N và ông T thỏa thuận là đặt cọc theo ý chí của ông N cam ết sẽ chuyển nhượng QSDĐ mà ông được một phần thừa ế QSDĐ của cha mẹ chết để lại theo quy định của pháp luật và đã cung cấp tài liệu chứng cứ về việc ông được hưởng thừa ế để cho ông T tin tưởng giao ết hợp đồng. Việc giao dịch đặt cọc được pháp luật quy định (Điều 328 Bộ luật d n sự n m 2015) và ông N, ông T đều thừa nhận hi thực hiện đặt cọc là hoàn toàn tự nguyện nên hông chấp nhận háng nghị.
Đại diện Viện iểm sát T1 đề nghị chấp nhận Quyết định háng nghị, chấp nhận một phần háng cáo của ông N, hông chấp nhận háng cáo của bà D, bà V, sửa một phần bản án sơ th m là có một phần cơ sở nên chấp nhận một phần.
Do đó hông chấp nhận Quyết định háng nghị; hông chấp nhận háng cáo của ông N, bà D và bà V; giữ nguyên bản án sơ th m. Các phần hác hông có háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp luật.
[5] Án phí phúc th m: ng N, bà D và bà V mỗi người phải chịu 300.000đ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
C n cứ vào các Điều 117, Điều 328 của Bộ luật D n sự; Điều 26, điểm a hoản 1 Điều 35, điểm c hoản 1 Điều 39, Điêu 73, Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 189, Điều 200, Điều 201, Điều 227, hoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng d n sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí T a án.
1. hông chấp nhận Quyết định háng nghị số 47/QĐ-VKS-DS ngày 10/4/2023 của Viện iểm sát nh n d n t nh Đồng Tháp.
hông chấp nhận yêu cầu háng cáo của ông Nguyễn V n N, bà Nguyễn Thị D và bà Nguyễn Thị V.
Giữ nguyên bản án sơ th m.
2. hông chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn ông Nguyễn V n N về việc tuyên bố hợp đồng đặt cọc là Giấy giao nhận tiền đặt cọc mua bán nhà đất ngày 01/2/2021” giữa ông Nguyễn V n N và ông Trần Thanh T là vô hiệu.
hông chấp nhận yêu cầu của ông Trần Thanh T về việc yêu cầu ông Nguyễn V n N tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng phần đất qua đo đạc thực tế nằm trong các mốc 1,2,3,4,8,7,1 có diện tích 772m2, thuộc một phần thửa số 71, tờ bản đồ số 19, đất tọa lạc tại phường M, thành phố C, t nh Đồng Tháp.
Buộc ông Nguyễn V n N trả lại số tiền đặt cọc và bồi thường tiền cọc cho ông Trần Thanh T số tiền tổng cộng là 11.160.000.000 đồng (mười một tỷ một tr m sáu mươi triệu đồng).
Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Thanh T về việc yêu cầu ông Nguyễn V n N phải trả số tiền vay 210.000.000 đồng và yêu cầu lãi suất là 0,83%/tháng từ ngày nộp đơn hởi iện là ngày 14/4/2022 đến ngày x t xử sơ th m 09/3/2023 là 17.430.000 đồng. Tổng cộng, buộc ông Nguyễn V n N phải trả số tiền vay và tiền lãi cho ông Trần Thanh T số tiền 227.430.000 đồng (hai tr m hai mươi bảy triệu bốn tr m ba mươi ngàn đồng).
ể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các hoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án c n phải chịu hoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật d n sự n m 2015.
(Kèm theo biên bản xem xét thẩm định, tại chỗ ngày 12/01/2022; sơ đồ đo đạc theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/01/2022).
Về chi phí xem x t th m định, định giá: Chấp nhận sự tự nguyện chịu chi phí xem x t th m định tại chỗ và định giá của bị đơn Trần Thanh T là 4.040.000 đồng, ông T đã nộp tạm ứng và chi xong.
3. Về án phí:
Nguyên đơn ông Nguyễn V n N phải chịu án phí d n sự sơ th m là 119.387.000 đồng. Nhưng được hấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.300.000 đồng theo biên lai thu số 0004764 ngày 18/10/2021 của Chi cục thi hành án d n sự thành phố Cao Lãnh, t nh Đồng Tháp. ng Nguyễn V n N còn phải nộp 63.087.000 đồng án phí d n sự sơ th m.
Bị đơn ông Trần Thanh T phải chịu tiền án phí d n sự sơ th m là 300.000 đồng. Nhưng được hấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lại thu số 0015486 ngày 13/5/2021 và tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.250.000 đồng theo biên lai thu số 0005572 ngày 15/4/2022 của Chi cục thi hành án d n sự thành phố Cao Lãnh, t nh Đồng Tháp. ng Trần Thanh T được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.250.000 đồng.
Ông N, bà D và bà V mỗi người phải chịu 300.000đ án phí d n sự phúc th m, nhưng được hấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai số 0012067 ngày 21/3/2023, biên lai số 0012078, 0012079 cùng ngày 24/3/2023 của Chi cục thi hành án d n sự thành phố Cao Lãnh, t nh Đồng Tháp.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án d n sự.
Bản án phúc th m có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - V SND t nh Đồng Tháp; - Ph ng TNV và THA TAND t nh ĐT; - TAND TP Cao Lãnh; - Chi cục THADS TP Cao Lãnh; - Đương sự; - Lưu: VT, HSVA, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PH N - CHỦ TỌA PHIÊN T A Nguyễn Ngọc Vạng |