vanban.org

Bản án 375/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà Nguyễn Thị Thiên K và ông Lê Thanh T là vợ chồng.

Về con chung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thiên K. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà Nguyễn Thị Thiên K và ông Lê Thanh T là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 375/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28/5/2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Th m phán - Ch t a phiên tòa: Ông Lương Ngọc Dũng.

Các Hội th m nhân dân:

1. Ông Lý Khắc Chung.

2. Ông Lê Cao Trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Vũ, Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 759/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 256/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 404/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thiên K, sinh năm 1983, địa chỉ: Tổ 12, khóm 3, phường Châu P, thành phố Châu Đ, tỉnh An Giang, vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Thanh T, sinh năm 1984, địa chỉ: Số 181, tổ 7, ấp Khánh Đ, xã Khánh H, huyện Châu P, tỉnh An Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 20 tháng 8 năm 2024, bản tự khai, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thiên K trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2013, không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu sống hạnh phúc, về sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không còn hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, thường xuyên tranh cải làm ảnh hưởng hạnh phúc gia đình, ngoài ra ông T đánh bà nhiều lần, hiện bà và ông T đã sống ly thân. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục sống chung nên bà K yêu cầu ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà và ông T có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 21/01/2014 và Nguyễn Thanh H, sinh ngày 10/12/2019, hiện đang sống với bà K. Bà K yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy 02 người con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T đến trụ sở Tòa án để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải về yêu cầu khởi kiện của bà K nhưng ông T vắng mặt không có lý do, nên Toà án không ghi nhận được ý kiến trình bày của ông T.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ đúng quy định pháp luật. Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định tố tụng tại phiên toà.

- Về việc chấp hành pháp luật: Các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 14, 51, 53, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà K và ông T là vợ chồng.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Diễm M và Nguyễn Thanh H cho bà K trực tiếp chăm sóc nuôi dạy, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, người tham gia tố tụng và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn khởi kiện tại Tòa án và đã nộp tạm ứng án phí nên Tòa án thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Bà K có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bà K, ông T theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Bà K và ông T tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2013, không có đăng ký kết hôn. Theo lời khai của bà K thì mâu thuẫn phát sinh trong quá trình chung sống là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, thường xuyên tranh cải làm ảnh hưởng hạnh phúc gia đình, ngoài ra ông T đánh bà nhiều lần, hiện bà và ông T đã sống ly thân. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục sống chung nên bà K yêu cầu ly hôn với ông T.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng. Do đó, bà K và ông T tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2013 đến nay không đăng ký kết hôn nên quan hệ giữa bà K và ông T không được công nhận là vợ chồng.

Về con chung:

Bà K và ông T có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 21/01/2014 và Nguyễn Thanh H, sinh ngày 10/12/2019, hiện đang sống với bà K. Bà K yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy cháu M, cháu H hiện đang sống với bà K, cháu M có nguyện vọng được sống cùng với bà K, nên giao cháu M, cháu H cho bà K tiếp tục nuôi dạy. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà K khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí:

Bà K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, Điều 51, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà Nguyễn Thị Thiên K và ông Lê Thanh T là vợ chồng.

2. Về con chung:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thiên K.

Bà Nguyễn Thị Thiên K được nuôi dạy con chung tên Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 21/01/2014 và Nguyễn Thanh H, sinh ngày 10/12/2019.

Ông Lê Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình của mình, không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thiên K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009093 ngày 03 tháng 12 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Phú. Ông Lê Thanh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Thời hạn kháng cáo của đương sự vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ