vanban.org

Bản án 375/2021/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 28/09/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/09/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ hông chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Trung A về vi c xin giảm nhẹ hình phạt; không chấp nhận kháng cáo của người bị hại về vi c tăng hình phạt cho bị cáo và yêu cầu bị cáo ồi thường thêm 35.

Tuyên ố: ị cáo Trần Trung A phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Tách yêu cầu bồi thường thi t hại của bị hại anh Nguyễn Phú Q về khoản tiền đã lắp mắt giả và các khoản tiền chi phí tái khám phát sinh sau này để giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi anh Q có đơn yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Trung A - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? 1/ hông chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Trung A về vi c xin giảm nhẹ hình phạt; không chấp nhận kháng cáo của người bị hại về vi c tăng hình phạt cho bị cáo và yêu cầu bị cáo ồi thường thêm 35.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 375/2021/HSPT
Ngày: 28-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Trường

Các thẩm phán:

Ông Trương Minh Tuấn

Ông Mai Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ xuân Ân, Kiểm sát viên.

Vào ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 360/2021/TLPT-HS ngày 10 tháng 6 năm 2021 đối với ị cáo Trần Trung A về tội “Cố ý gây thương tích; do có kháng cáo của bị cáo và người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2021/HS-ST ngày 06/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2030/2021/QĐXXPT-HS ngày 13 tháng 9 năm 2021.

- Bị cáo, bị hại kháng cáo:

Họ và tên: Trần Trung A, sinh năm 2001 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: tỉnh Đắk Lắk; nghề nghi p: Làm nông; trình độ h c vấn: 8/12; dân tộc: inh; giới tính: Nam; tôn giáo: hông; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Trần Trung T và à Võ Thị L; ị cáo chưa có v con; tiền án: hông.

Tiền sự: Ngày 07/02/2020 ị Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huy n K xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác.

ị cáo ị tạm gi tạm giam t ngày 22/7/2020 hi n nay ị cáo đang tạm giam có m t tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Trung A: Luật sư Đoàn Quang H thuộc văn phòng Luật sư X – Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk có m t.

* Người bị hại: A Nguyễn Phú Q – sinh năm 1998.

Địa chỉ: tỉnh Đắk Lắk có m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 10/5/2020, Trần Trung A, Nguyễn Tấn C, Trương Văn K, Trần Tấn S, Huỳnh Thanh Đ Hoàng L Quỳnh A, Nguyễn Thị Thanh N và Lê Thị Kim L cùng nhau ngồi uống rư u tại bờ hồ T thuộc huy n K, tỉnh Đắk Lắk. Trong quá trình uống rư u Trần Trung A cùng Trương Văn K và Nguyễn Thị Thanh N đi qua ên nhóm của anh Nguyễn Phú Q đang ngồi uống rư u gần đó để giao lưu. Tại đây N đứng ở ên ngoài xe môtô còn Trần Trung A và K ngồi uống rư u với nhóm của anh Q đư c một lúc rồi quay về nhóm của mình và không có mâu thuẫn gì. Khoảng 01 giờ 30 phút đến 02 giờ ngày 11/5/2020 thì nhóm của Trần Trung A uống hết 02 lít rư u nên cả nhóm đi về, khi đến khu vực cổng chào Thôn 6 xã H, huy n K, tỉnh Đắk Lắk cả nhóm d ng lại chơi và nó chuy n. Trong lúc m i người đang nói chuy n thì Trần Trung A cầm 01 ná cao su mang theo t trước đó đi ra đường Quốc lộ 26 đứng rồi nh t đá (loại đá có kích thước khoảng 01 cm x 02 cm) bắn về phía cánh đồng. Khi thấy xe mô tô lưu thông trên Quốc lộ 26 theo hướng thành phố B đi huy n E thì Trần Trung A nảy sinh ý định bắn người điều khiển xe máy lúc này Trần Trung A chưa iết người điều khiển xe mô tô iển kiểm soát 47M-528.79 là anh Nguyễn Phú Q. Trần Trung A cầm ná đi ra gi a đường đứng chờ và lúc này anh Q điều khiển xe mô tô với tốc độ khoảng 45 - 50km/h đi đến cách khoảng 2m - 3m thì Trần Trung A giương ná lên nhằm thẳng vào m t bắn 01 phát trúng vào mắt phải của anh Q. Bị choáng nhưng anh Q s bị đánh nên đã cố gắng điều khiển xe đi tiếp thì Trần Trung A nói với C chở mình chạy theo xem người bị bắn có ị sao không nhưng mục đích là để tiếp tục đánh anh Q. Nghĩ là Trần Trung A nhờ chở đi xem người bị bắn có ị thương không nên C chở Trần Trung A chạy theo một đoạn khoảng 2km thì thấy anh Q d ng xe ên đường nhưng vẫn ngồi trên xe để g i đi n thoại. Trần Trung A nhảy xuống xe rồi đi lại cách khoảng 2m thì anh Q quay m t lại phía sau nhìn Trần Trung A giương ná lên nhằm thẳng vào đầu để bắn tiếp thì trúng mũ ảo hiểm của anh Q đang đội sau đó Trần Trung A tiếp tục dùng tay đánh 01 cái vào đầu nhưng trúng mũ ảo hiểm. Lúc này C cùng với nhóm ạn của Trần Trung A chạy đến can ngăn thì thấy mắt ên phải của anh Q bị lòi ra ngoài. Sau đó Trần Trung A bỏ đi thì nhóm ạn của A đi đến trước trường tiểu h c Trần Phú thuộc Thôn 6 A xã H, huy n K àn ạc với nhau để đưa anh Q đi cấp cứu sau đó Đ cùng với S quay lại để đưa anh Q đi cấp cứu nhưng không thấy. Còn anh Q sau khi nhóm bạn của Trần Trung A đi thì đã g i đi n thoại nhờ bạn mình là anh Trần Văn Trường và anh Hồ Ng c C đưa đến Trung tâm y tế huy n K để cấp cứu sau đó đưa đến B nh vi n đa khoa vùng Tây N và nh vi n Mắt ở thành phố Hồ Chí Minh điều trị.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 650g/TgT-TTPY ngày 18/6/2020 củaTrung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đắk Lắk, kết luận:

- Vết thương để lại sẹo mi dưới – khóe mắt, bờ không đều kích thước 1,5cm x 0,3cm; mắt phải sáng tối âm tính (mù tuy t đối mắt phải). Tỷ l phần trăm tổn thương có thể do thương tích gây nên hi n tại là 43%.

- Vật tác động: Vật tày có cạnh.

- Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương để lại sẹo mi dưới –khóe mắt phải, chấn thương gây mù mắt phải là tác động trực tiếp của vật tày có cạnh hướng t trước ra sau, t trái qua phải.

Tại B n n h nh sự sơ thẩm s 35/2021/HS-ST ngày 06/5/2021, Tòa n nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quy t định:

[1] Tuyên ố: ị cáo Trần Trung A phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

[2] Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Trung A 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù đư c tính t ngày ắt tạm gi tạm giam, ngày 22/7/2020.

[3] Về bồi thường thi t hại: Áp dụng khoản 1 Điều 48 ộ luật hình sự; Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 584 Điều 585 Điều 590 của ộ luật dân sự năm 2015;

[3.1] Ghi nhận bị cáo Trần Trung A và ố mẹ bị cáo là ông Trần Trung Tiếng à Võ Thị Lý đã ồi thường cho bị hại anh Nguyễn Phú Q số tiền 59.000.000 đồng (năm mươi chín tri u đồng);

[3.2] Tách yêu cầu bồi thường thi t hại của bị hại anh Nguyễn Phú Q về khoản tiền đã lắp mắt giả và các khoản tiền chi phí tái khám phát sinh sau này để giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi anh Q có đơn yêu cầu.

Ngoài ra ản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/5/2021 bị cáo Trần Trung A cùng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt ; bị hại Nguyễn Phú Q kháng đề nghị tăng hình phạt và uộc bị cáo ồi thường thêm 35.000.000đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Trần Trung A vẫn gi nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị hại Nguyễn Phú Q vẫn gi nguyên nội dung kháng đề nghị tăng hình phạt và uộc bị cáo ồi thường thêm 35.000.000đ.

Đ di n Vi n kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Đà Nẵng phát iểu quan điểm về vụ án cho rằng: Về tố tụng HĐXX tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, về nội dung căn cứ vào các tài li u, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người đúng tội. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Trung A không cung cấp đư c tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có cơ sở xem xét chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt. Đối với kháng cáo của bị hại chưa đư c cấp sơ thẩm xem xét nay bị hại cũng không cung cấp đư c chứng cứ mới; nên đề nghị HĐXX không chấp nhận.

Luật sư Đoàn Quang Hưởng ào ch a cho bị cáo nêu quan điểm: Bị cáo xuất thân t gia đình nông dân có hoàn cảnh rất khó khăn; bản chất thật thà nhưng vì say rư u không làm chủ đư c bản thân nên dùng ná ắn vu vơ không may trúng người bị hại; nay bị cáo đã thật sự biết ăn năn hối cải đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

M c dù không quen iết không có mâu thuẫn nhưng ị cáo A đã dùng ná cao su ắn đá vào m t anh Q trong lúc anh Q đang điều khiển xe moto chạy trên đường khiến mắt phải anh Q lòi ra ngoài với tỷ l thương tích là 43%, nay phải lắp mắt giả. Với hành vi và hậu quả như trên Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo 09 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS và buộc bị cáo ồi thường cho anh Q 59.000.000đ.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người trực tiếp dùng hung khí nguy hiểm là cái ná ắn đá vào m t anh Q đang điều khiển xe trên đường; khi anh Q bị thương phải d ng lại thì ị cáo tiếp tục chạy đến bắn tiếp phát thứ hai và dùng tay đánh vào người anh Q, chứng tỏ bị cáo rất côn đồ, hung hãn xem thường tính mạng, sức khỏe người khác và quyết tâm phạm tội đến cùng. Bị cáo có nhiều tình tiết định khung tăng n ng và tỷ l tương tích của anh Q trên 31%; do vậy tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 có khung hình phạt tù t 05 năm đến 10 năm đối với bị cáo là có căn cứ. Bị cáo có 01 tình tiết tăng n ng là quyết tâm thực hi n tội phạm đến cùng theo điểm e khoản 1 Điều 52 và nhiều tình tiết giảm nhẹ như ồi thường thi t hại; thành khẩn khai áo; ăn năn hối cải; người bị hại gửi đơn ãi nại xin giảm nhẹ cho bị cáo theo các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS; nên tuyên phạt bị cáo 09 năm tù là có căn cứ đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp đư c tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có cơ sở xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Xét kháng cáo của người bị hại yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo và uộc bồi thường thêm 35.000.000đ; HĐXX thấy rằng: hung hình phạt áp dụng cho bị cáo có mức án cao nhất là 10 năm tù và tỷ l thương tích cao nhất là 60%; tuy bị cáo có 01 tình tiết tăng n ng, nhưng có 03 tình tiết giảm nhẹ; đồng thời tỷ l thương tích của người bị hại là 43%; cân nhắc gi a các vấn đề trên mức án mà tòa sơ thẩm tuyên phạt đối với bị cáo 09 năm là không nhẹ; nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt của người bị hại. Đối với kháng cáo phần dân sự; HĐXX thấy rằng: Trước khi xét xử sơ thẩm gi a hai ên gia đình ị cáo và người bị hại đã thỏa thuận với nhau về vi c giải quyết toàn ộ chi phí điều trị của bị hại là 59.000.000đ nên người bị hại đã gửi đơn ãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo trình ày là làm mắt giả và sẽ điều trị tiếp nên yêu cầu bị cáo ồi thường thêm 35.000.000đ ị cáo chưa thỏa thuận đư c. Xét thấy người bị hại chưa chuẩn bị đầy đủ chứng cứ cũng như vi c điều trị sắp đến không thể biết đư c là chi phí ao nhiêu nên tòa án cấp sơ thẩm tách phần này ra để người bị hại sau khi điều trị ổn định thương tật có đầy đủ chứng cứ sẽ giải quyết ở một vụ án khác. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay người bị hại cũng chưa cung cấp đư c chứng cứ; do vậy vi c kháng cáo của người bị hại yêu cầu bị cáo ồi thường thêm 35.000.000đ là không có căn cứ để cấp phúc thẩm chấp nhận.

Về án phí: Kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không đư c chấp nhận nên ị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; kháng cáo của người bị hại về tăng hình phạt và phần dân sự tuy không đư c chấp nhận nhưng người bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo không bị kháng nghị đã có hi u lực pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1/ hông chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Trung A về vi c xin giảm nhẹ hình phạt; không chấp nhận kháng cáo của người bị hại về vi c tăng hình phạt cho bị cáo và yêu cầu bị cáo ồi thường thêm 35.000.000đ; gi nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2021/HS-ST ngày 06/5/2021 Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Tuyên ố: ị cáo Trần Trung A phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Trung A 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù đư c tính t ngày ắt tạm gi tạm giam, ngày 22/7/2020.

Tách yêu cầu bồi thường thi t hại của bị hại anh Nguyễn Phú Q về khoản tiền đã lắp mắt giả và các khoản tiền chi phí tái khám phát sinh sau này để giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi anh Q có đơn yêu cầu.

2/ Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc Hội “Quy định về về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng áp phí và l phí Tòa án”.

Bị cáo Trần Trung A phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

Người bị hại Nguyễn Phú Q không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo không ị kháng nghị đã có hi u lực pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật kể t ngày tuyên án (28/9/2021).

Cỡ chữ