- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Văn Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt tù; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 375/2019/HS-ST Ngày 09 - 11 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hà, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Chiến, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 383/2019/HSST ngày 29 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 402/2019/HSST-QĐ ngày 30/10/2019 đối với bị cáo:
Lê Văn Đ, sinh năm 1989 tại tỉnh A; thường trú: Ấp K, xã K, huyện Ch, tỉnh A; tạm trú: Tổ 26 khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm thuê (thợ sơn nước); trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa hảo; con ông Lê Văn B, sinh năm 1968 và con bà Lê Thị Ng, sinh năm 1966; bị cáo có vợ tên Thị Ngọc, sinh năm 1995 và có 01 con sinh năm 2015; tiền sự, tiền án: Không có, bị cáo bị bắt giam ngày 27/8/2019, có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1958; thường trú: Số 11 B, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh B, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
1. Thị Th, sinh năm 1976; thường trú: Ấp 8 xã L, huyện G, tỉnh K, có mặt.
2. Thị Ngọc, sinh năm 1995; thường trú: Ấp 8 xã L, huyện G, tỉnh K, có mặt
3. Chị Nguyễn Ngọc Bảo Tr, sinh năm 1994; thường trú: Số 11 B, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh B, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án Đ tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ 10 phút, ngày 23/8/2019, bị cáo Lê Văn Đ đến địa chỉ số 11B khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh B gặp ông Nguyễn Văn L để lấy quần áo thuê giặt ủi, khi trả tiền Đ biết trong túi áo khoác màu đen của ông L có tiền, ông L treo áo khoác lên móc gần cửa sổ rồi vào trong nhà xem ti vi. Đ đem quần áo đã giặt ủi về phòng trọ của mình, sau đó đi bộ đến vị trí cửa sổ nhà ông L, dùng tay lấy áo khoác màu đen bên trong có số tiền 2.900.000 đồng của ông L rồi về phòng trọ. Đ lấy số tiền trong túi áo khoác 2.000.000 đồng đưa cho bà Thị Th để đi khám bệnh cho con gái của Đ, số tiền 900.000 đồng còn lại Đ sử dụng cá nhân. Đến ngày 24/8/2019, chị Nguyễn Ngọc Bảo Tr là con gái ông L đến Công an phường Tân Đông Hiệp trình báo việc mất tài sản, ngày 27/8/2019 bị cáo Đ đến Công an phường Tân Đông Hiệp đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) áo khoác màu đen có túi áo phía trước, không có nhãn hiệu; số tiền 2.000.000 đồng do bà Thị Th (mẹ vợ bị cáo Đ) giao nộp.
Kết luận định giá tài sản số 211/BB.ĐG ngày 09 tháng 10 năm 2019 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An kết luận: 01 (một) áo khoác không nhãn hiệu, màu đen có trị giá 100.000 đồng. Tổng tài sản bị cáo Đ chiếm đoạt gồm áo và tiền là 3.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Trả (một) áo khoác màu đen có túi áo phía trước, không có nhãn hiệu, số tiền 2.000.000 đồng cho ông Nguyễn Văn L.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Đ đã bồi thường cho ông Nguyễn Văn L số tiền 900.000 đồng. Ông L không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Cáo trạng số 401/CT-VKS ngày 28/10/2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đ từ 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Bị cáo Đ không tranh luận, không bào chữa cho hành vi phạm tội. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo Đ nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận việc mình đã làm, bị cáo xin Đ giảm nhẹ mức án thấp nhất để sớm về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã Đ tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ xác định bị cáo phạm tội: Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú ngày 27/8/2019, lời khai bị cáo, bị hại và trình bày tại phiên tòa thể hiện vào lúc 20 giờ 30 ngày 23/8/2019 tại địa chỉ Số 11 B, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh B, bị cáo Lê Văn Đ lén lút lấy 01 áo khoác và số tiền 2.900.000 đồng của ông Nguyễn Văn L, tổng trị giá tài sản 3.000.000 đồng. Như vậy, hành vi trên của bị cáo Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 401/CT – VKS ngày 28/10/2019 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đ cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đ không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả; bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo ra đầu thú. Tình tiết giảm nhẹ trên được quy định điểm b, h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Đ có nhân thân tốt thể hiện việc không có tiền án, tiền sự, bị cáo nhất thời phạm tội.
Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm do bị cáo Đ thực hiện là ít nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 03 năm tù, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản của ông Nguyễn Văn L được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, hành vi trên của bị cáo cần có mức hình phạt phù hợp để giáo dục bị cáo cũng như việc răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Xét, bị cáo Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt tù cho hưởng án treo giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi cư trú để giám sát, giáo dục cũng có tác dụng giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn L đã được bồi thường và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Do vậy, Hội đồng xét xử không xét.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo Đ phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận. Riêng mức hình phạt bị cáo Đ có phần nghiêm khắc, Hội đồng xét xử xử mức án bị cáo Đ thấp hơn mức án đại diện viện kiểm sát đề nghị.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo Đ phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao.
Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Văn Đ cho y ban nhân dân phường Dĩ An, thị Dĩ An, t nh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của Luật Thi Hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đ cho hưởng án treo.
Áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Lê Văn Đ ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo Đ không bị tạm giữ, bị bắt tạm giam về một tội phạm nào khác.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14.
Bị cáo Lê Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã; - Công an thị xã; - Chi cục THA dân sự thị xã; - Trại tạm giam CA tỉnh BD; - TAND tỉnh BD; - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú; - Phòng PV 27 CA tỉnh BD; - Phòng PC 81 CA tỉnh BD; - Bị cáo; bị hại; người cqlnvlq; - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Linh |