vanban.org

Bản án 374/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H1 phạm tội Cƣớp giật tài sản.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2022. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H bị truy tố về tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H1 phạm tội Cƣớp giật tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 374/2022/HS-ST
Ngày 14-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;

2. Bà Bùi Thị Thúy Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thƣ ký Tòa án nhân dân tHnh phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2022 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 359/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 166/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Phạm Văn H, sinh năm 1985 tại tỉnh Phú Thọ; thƣờng trú: Thôn A, xã V, huyện Đoan H1, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Phạm Văn D, sinh năm 1952 và bà Đỗ Thị L, sinh năm 1953; bị cáo chƣa có vợ con; tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 29/09/2016, bị Toà án tHnh phố Biên Hoà tuyên phạt 02 năm tù tội Cƣỡng đoạt tài sản và 03 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo Bản án số 585/2016/HSST. Đã chấp Hnh xong hình phạt tù vào ngày 28/4/2020; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2022, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; địa chỉ: Số 59/27/18D, khu phố T, phƣờng Đ, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1984; địa chỉ: A, đƣờng D, Khu phố B, KDC V, phƣờng A, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Chị Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1985; địa chỉ: Số A, tổ B, khu phố B, phƣờng Th, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.

3. Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1953; thƣờng trú: Thôn A, xã V, huyện Đoan H1, tỉnh Phú Thọ; địa chỉ liên hệ: Số A, tổ B, khu phố B, phƣờng Th, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Phạm Văn H1 và chị Nguyễn Thị H quen biết qua mạng xã hội Zalo từ tháng 07 năm 2021 và có quan hệ tình cảm với nhau

Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 09/5/2022, H1 điều khiển xe môtô nhãn hiệu Airblade biển số: 72F1-724.97 đi đến nhà trọ của chị H tại khu phố T, Phƣờng Đ, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đón chị H đi đến quán “LêKiMa” tại địa chỉ số 464 Khu phố Nội Hoá 1, phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng uống cà phê. Trong quá trình nói chuyện, H1 mƣợn chị H chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh để nghe nhạc, chị H đồng ý và đƣa điện thoại cho H1 mƣợn.

Sau khi uống cà phê xong, đến khoảng 12 giờ cùng ngày, H1 chở chị H đến quán bánh canh Cô Thanh tại đƣờng Trần Quốc Toản, phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng để ăn trƣa, lúc này H1 vẫn còn giữ chiếc điện thoại di động Iphone 13 Promax của chị H. Khi ở quán Cô Thanh, H1 lên tiếng rủ chị H đi nhà nghỉ để tâm sự, chị H đồng ý. H1 điều khiển xe môtô chở chị H đến nhà nghỉ “Tân Tân” thuộc khu phố Nội Hoá 1, phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, khi đến nhà nghỉ, H1 dừng xe để chị H xuống xe, khi chị H vừa xuống xe (chuẩn bị đi vào trong sảnh nhà nghỉ thuê phòng) thì H1 tăng ga nhanh chóng điều khiển xe môtô bỏ chạy. Chị H thấy vậy liền truy hô chạy bộ đuổi theo nhƣng không kịp.

Trên đƣờng bỏ chạy, H1 tắt máy điện thoại Iphone Promax của H và tháo sim vứt bỏ dọc đƣờng. Đến ngày 04/6/2022, H1 mang chiếc điện thoại Iphone 13 Promax đến tiệm điện thoại “Triệu Phú” tại địa chỉ A, đƣờng D, Khu phố B, KDC V, phƣờng A, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng của anh Nguyễn Văn H2 để sửa màn hình. Đến khoảng 14 giờ ngày 06/6/2022 H1 đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Airblade biển số: 93F1-635.79, số máy JFJ4E0441088, số khung RLHJF6333NZ110393 của chị Nguyễn Thị Ngọc B đi trên đƣờng ở khu 5, phƣờng Phú Hoà, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng thì bị chị H phát hiện và báo Công an phƣờng Phú Hoà đến đƣa H1 về trụ sở làm việc. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An ra Lệnh bắt ngƣời bị giữ trong trƣờng hợp khẩn cấp đối với H1.

* Kết luận định giá tài sản số 61/BBĐG-HĐĐGTS ngày 16/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên trong tố tụng hình sự kết luận: Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh (đã qua sử dụng) trị giá 23.000.000 đồng;

* Tang vật tạm giữ gồm:

- Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh;

- Một xe mô tô nhãn hiệu Airblade biển số: 93F1-635.79, số máy JFJ4E0441088, số khung RLHJF6333NZ11039.

Tại cáo trạng số 387/CT-VKS-DA ngày 18 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Phạm Văn H1 về tội Cƣớp giật tài sản theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Phạm Văn H1 từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng đến 02 (năm) 03 (ba) tháng tù.

*Về xử lý vật chứng:

- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho chị Nguyễn Thị H, chị H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên về trách nhiệm dân sự không đặt ra.

- Đối với xe mô tô hiệu Airblade biển số 72F1-72407 do Phạm Văn H1 mua lại của tiệm xe máy cũ trên địa bàn huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. H1 sử dụng xe vào việc phạm tội. Tuy nhiên, sau khi thực hiện xong việc chiếm đoạt chiếc điện thoại của chị Nguyễn Thị H, H1 đã làm mất xe nên Cơ quan điều tra không thu hồi đƣợc.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Airblade biển số: 93F1-635.79, số máy JFJ4E0441088, số khung RLHJF6333NZ11039 thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Ngọc B, xe này không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chị B.

- Đối với số tiền 9.500.000 đồng chi phí sửa chữa điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax của anh Nguyễn Văn H2 đã đƣợc bà Đỗ Thị L (mẹ của Phạm Văn H1) bồi thƣờng, anh H2 không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa bị cáo không tranh luận; bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt nên không tranh luận, không đối đáp.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng:

Về Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và ngƣời làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh H2 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Đỗ Thị L vắng mặt. Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự Tòa án xét xử vắng mặt bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, lời khai của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, lời khai của ngƣời chứng kiến tại Cơ quan điều tra và cũng phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nhƣ Biên bản bắt ngƣời bị giữ trong trƣờng hợp khẩn cấp, Biên bản xác định địa điểm, Kết luận định giá tài sản số 61/BBĐG-HĐĐGTS ngày 16/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Dĩ An. Nhƣ vậy, hành vi bị cáo Phạm Văn H1 chiếm giữ điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh trị giá 23.000.000 đồng của chị H rồi nhanh chóng tăng ga xe mô tô tẩu thoát đã phạm tội cƣớp giật tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Năm 2016, bị cáo đã bị xử phạt về tội Cƣỡng đoạt tài sản và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản chƣa đƣợc xóa án tích lại phạm tội mới nên thuộc trƣờng hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 387/CT-VKS-DA ngày 18 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo có một tiền án chƣa đƣợc xóa án tích lại phạm tội mới nên thuộc trƣờng hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra bị cáo tHnh khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thƣờng số tiền 9.500.000 đồng cho ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; bị hại chị H, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hay có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị H là đúng quy định pháp luật.

- Đối với xe mô tô hiệu Airblade biển số 72F1-72407 do Phạm Văn H1 mua lại của tiệm xe máy cũ trên địa bàn huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. H1 sử dụng xe vào việc phạm tội. Tuy nhiên, sau khi thực hiện xong việc chiếm đoạt chiếc điện thoại của chị Nguyễn Thị H, H1 đã làm mất xe nên Cơ quan điều tra không thu hồi đƣợc.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Airblade biển số: 93F1-635.79, số máy JFJ4E0441088, số khung RLHJF6333NZ11039 thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Ngọc B, xe này không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chị B là đúng quy định pháp luật.

- Đối với số tiền 9.500.000 đồng chi phí sữa chữa điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax của anh Nguyễn Văn H2 đã đƣợc bà Đỗ Thị L (mẹ của Phạm Văn H1) bồi thƣờng, anh H2 không có yêu cầu gì khác.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã trả lại cho bị hại Nguyễn Thị H và số tiền sửa chữa điện thoại 9.500.000 đồng bị cáo đã tác động gia đình bồi thƣờng cho anh H2. Chị H và anh H2 không có yêu cầu gì khác, số tiền 9.500.000 đồng bà Đỗ Thị L đã bồi thƣờng thay cho bị cáo, bà L không yêu cầu bị cáo trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo H1 phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H1 phạm tội Cƣớp giật tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2022.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Phạm Văn H1 phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ