vanban.org

Bản án 373/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Bộ luật Hình sự xử phạt: Bùi Ngọc T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/02/2023. 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Bùi Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Ngọc T_Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 373/2023/HS-ST
Ngày: 06-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Văn Lợi

Ông Phạm Văn Phước

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân

dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễn Công Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 324/2023/TLST-HS ngày 03

tháng 8 năm 2023 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung

tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt

tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét

xử số 369/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Bùi Ngọc T; Sinh năm 1985 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi thường trú: Số A

thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Không nơi cư trú ổn định;

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn

giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Ngọc T, sinh năm 1954 và bà

Nguyễn Thị Th, sinh năm 1956; Có vợ và 01 con sinh năm 2017; Tiền án: Không;

Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 27/02/2023. (Có mặt)

- Bị hại:

Ông Phan Tấn N, sinh năm 1989; Địa chỉ: A đường B, Khu phố C, phường

D, thành phố E. (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1985; Địa chỉ: A đường B, Khu phố C,

phường D, thành phố E. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ 50 phút ngày 15/12/2022, Bùi Ngọc T ngồi ăn cháo đối

diện quán cà phê võng vỉa hè kế bên số A Quốc Lộ B, khu phố C, phường D, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện anh Phan Tấn N điều khiển xe mô tô hiệu Piaggio Vespa, biển số: 59P1-079.14 vào quán cà phê trên, dựng xe trước quán, để chìa khóa trên bàn rồi ngồi ngủ trên ghế. Thấy anh N đã ngủ say và để chìa khóa mô tô trên bàn nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt. T đi lại gần nơi anh N đang ngủ, dùng tay phải lay người anh N nhưng không thấy trả lời, sau đó T lấy chìa khóa xe trên bàn cắm vào xe anh N, mở khóa xe dắt bộ khoảng 10 mét về hướng nhà thờ Khiết Tâm rồi nổ máy xe chạy đến bãi gửi xe qua đêm tại số A Quốc Lộ B, khu phố C, phường D, thành phố Thủ Đức gửi xe lại. Khi mở cốp xe T phát hiện trong cốp có 450.000 đồng nên bỏ vào trong bóp rồi rời đi. Sau đó T đã tiêu xài hết 200.000 đồng, đồng thời giấu chìa khóa và thẻ giữ xe vào trong 01 thùng xốp ở bãi đất trống cách Quán café nơi T lấy xe 200 mét. Đến 15 giờ ngày 16/12/2022, T quay lại kiểm tra thì phát hiện thùng xốp đã bị lấy mất, không tìm lại được. Ngày 16/12/2022 T kiểm tra trên mạng thấy dòng xe trên thường có định vị, sợ bị bắt nên cùng ngày T đã đến công an phường Bình Chiểu đầu thú.

Bản kết luận định giá tài sản số 38-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 01/02/2023,

của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Đức kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Vespa màu nâu, biển số 59P1-079.14 trị giá 11.333.000 đồng. Như vậy tổng tài sản Bùi Ngọc T chiếm đoạt là 11.783.000 đồng.

Vật chứng: Số tiền 250.000 đồng, Công an thành phố Thủ Đức đã trả lại

cho anh Phan Tấn N. 01 xe mô tô hiệu Piaggio Vespa màu nâu, biển số 59P1-079.14. Qua xác minh xe mô tô trên do chị Vũ Phạm Ngọc L đứng tên sở hữu, tháng 3/2022, chị L ủy quyền cho anh Nguyễn Minh H quản lý, sử dụng, anh H cho anh N mượn xe mô tô trên đi làm. Công an thành phố Thủ Đức đã trả lại xe cho anh H;

Bản cáo trạng số 305/CT-VKSTPTĐ ngày 27/7/2023 của Viện kiểm sát

nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố Bùi Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh

luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Bùi Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự xử phạt Bùi Ngọc T mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù. Về bồi thường thiệt hại: Bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại; Về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng;

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự

bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm

nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố

Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát

viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự,

thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa,

bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến

hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của

Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Ngọc T khai nhận khoảng 03 giờ 50 phút ngày

15/12/2022, tại quán cà phê võng vỉa hè kế bên số A Quốc Lộ B, khu phố C,

phường D, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Bùi Ngọc T đã dùng thủ

đoạn lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Piaggio loại Vespa màu nâu, biển số

59P1-079.14 trị giá 11.333.000 đồng do anh Phan Tấn N quản lý, sử dụng và

450.000 đồng của anh N để trong cốp xe. Tổng tài sản bị chiếm đoạt có giá trị là

11.783.000 đồng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức

được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích muốn thỏa mãn

động cơ cá nhân, muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên vẫn cố tình

phạm tội với lỗi cố ý. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời

khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật

chứng thu giữ, định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ,

phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội

“Trộm cắp tài sản”.

Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ

Đức đối với bị cáo Bùi Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173

của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm

phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân và gây mất trật tự, an toàn

xã hội cần phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật vì vậy, có một mức án

nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục,

cải tạo bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình

tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần

đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đầu thú quy định tại các điểm i, s khoản 1,

khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại: Anh Phan Tấn N đã

nhận lại được tiền, anh Nguyễn Minh H đã nhận lại xe, không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Bị hại đã nhận lại tài sản nên Hội đồng xét xử

không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo

quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của

Bộ luật Hình sự xử phạt: Bùi Ngọc T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/02/2023.

2. Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Bùi Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có

quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án sơ thẩm liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ