vanban.org

Bản án 373/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/09/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Buộc ông Võ Việt Q thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần X tổng cộng số tiền nợ là 252.801.411 (hai trăm năm mươi hai triệu tám trăm lẻ một ngàn bốn trăm mười một) đồng (bao gồm nợ gốc là 116.281.769 đồng, nợ lãi trong hạn là 91.013.095 đồng, nợ lãi quá hạn là 45.506.547 đồng); Thi hành ngay k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 373/2022/DS-ST
Ngày: 06/9/2022
V/v tranh chấp hợp đồng tín
dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thái Thục Hiền 2. Ông Đoàn Văn Rỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Hồng Đào - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận 8, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 09 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số 110/2021/TLST-DS ngày 11 tháng 05 năm 2021 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 254/2022/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 07 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 184/2022/QĐST-DS, ngày 15 tháng 08 năm 2022 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP X; địa chỉ: 54A đường N, quận Đ, Thành phố H. Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: ông Võ Minh T; địa chỉ: Tầng x, Tòa nhà TNR, số 180-192 Nguyễn Công Trứ, phường N, Quận Đ, Thành phố H. (Văn bản ủy quyền ngày 01/8/2022) (vắng mặt) 2. Bị đơn: Ông Võ Việt Q; địa chỉ: 617/24 đường B, Phường 9, Quận 8, Thành phố H. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ghi ngày 14 tháng 07 năm 2020, bản khai trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần X (viết tắt là xxx) có người đại diện theo ủy quyền trình bày như sau: Ngày 19/5/2017 Ngân hàng thương mại cổ phần X và ông Võ Việt Q ký kết hợp đồng cho vay số 1905/2017/HĐCV-MSB ngày 19/5/2017 với số tiền vay là 140.000.000 đồng, mục đích mua sắm đồ dùng gia dụng, thời hạn vay là 60 tháng, lãi suất là 19%/năm, tính trên dư nợ thực tế và điều chỉnh theo thông báo của xxx.

Ngày 19/5/2017 Ngân hàng thương mại cổ phần X đã giải ngân cho ông Võ Việt Q số tiền 140.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 1905/2017/GNN.

Trong quá trình vay vốn, ông Võ Việt Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã thỏa thuận trong hợp đồng. Tính đến ngày 06/9/2022 ông Võ Việt Q còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần X số tiền nợ gốc là 116.281.769 đồng, nợ lãi trong hạn là 91.013.095 đồng, nợ lãi quá hạn là 45.506.547 đồng. Nay đại diện Ngân hàng yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 8 buộc ông Võ Việt Q thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần X tổng số tiền nợ là 252.801.411 đồng và lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc kể từ ngày kế tiếp theo của ngày xét xử cho đến ngày ông Q thanh toán hết nợ.

Bị đơn là ông Võ Việt Qđã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án và đã được nhiều lần triệu tập hợp lệ nhưng không đến nên không có lời khai.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Nguyên đơn chấp hành tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự; Bị đơn chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự. Về phần nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xét nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn thì đây là vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng tín dụng, bị đơn cư trú tại Quận 8 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại các điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự .

Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của nguyên đơn:

Căn cứ bản sao Hợp đồng cho vay số 1905/2017/HĐCV-MSB ngày 19/5/2017 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần X với ông Võ Việt Q thì bị đơn đã được Ngân hàng thương mại cổ phần X đồng ý cho vay với số tiền là 140.000.000 đồng, mục đích mua sắm đồ dùng gia dụng, thời hạn vay là 60 tháng. Căn cứ bản sao Giấy nhận nợ thì ông Q đã nhận được số tiền vay là 140.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 19/5/2017 đến ngày 19/5/2022 với lãi suất trong hạn là 19%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất thông thường trong hạn.

Hội đồng xét xử xác định Ngân hàng đã tính đúng các khoản nợ gốc và lãi đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và bản sao giấy nhận nợ. Bị đơn vắng mặt trong hai phiên tòa xem như không phản đối yêu cầu của nguyên đơn.

Do đó, áp dụng khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 11, khoản 2 Điều 13, Điều 25 của Quyết định số 162/2011/QĐ ngày 31/12/2001của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán - Tòa án nhân dân Tối cao; Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 252.801.411 đồng x 5% = 12.640.070 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Luật các Tổ chức tín dụng;; khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán - Tòa án nhân dân Tối cao; Căn cứ Án lệ số 8 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015; Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Buộc ông Võ Việt Q thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần X tổng cộng số tiền nợ là 252.801.411 (hai trăm năm mươi hai triệu tám trăm lẻ một ngàn bốn trăm mười một) đồng (bao gồm nợ gốc là 116.281.769 đồng, nợ lãi trong hạn là 91.013.095 đồng, nợ lãi quá hạn là 45.506.547 đồng); Thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày 07/9/2022, ông Võ Việt Q còn phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần X khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Án phí Tòa án:

Ông Võ Việt Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 12.640.000 (mười hai triệu sáu trăm bốn mươi ngàn) đồng.

Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần X số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 3.979.271 đồng, theo biên lai thu số 0046322 ngày 07/5/2021 cuả Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc tính từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ