- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đình R - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! ! Bản án số: 372/2020/HS - PT Ngày: 10 - 8 - 2020 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Châu
Các Thẩm phán:
1. Bà Đoàn Thị Hương Giang
2. Ông Lê Công Huân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 227/2020/TLPT - HS, ngày
08/6/2020 đối với bị cáo Trần Đình R do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án
hình sự số: 43/2020/HS - ST ngày 28/4/2020 của Tòa án nhân dân quận Tân
Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Trần!Đình!R (tên gọi khác: Không); sinh ngày 14/10/1989; tại Thành phố
Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: số L đường D, Phường H, Quận P, Thành
phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ văn hóa: 12/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Thiên chúa; con ông Trần Đình T
và bà Phạm Thị Ánh R; có vợ tên Nguyễn Diệp Trúc V; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại; có mặt.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 13/6/2019 Trần Đình R điều khiển xe máy
biển số 59L2 – 713.86 chở bà Nguyễn Diệp Trúc V đang lưu thông trên đường
Âu Cơ hướng về đường Khuông Việt thì quay đầu xe vòng ngược lại, làm ông
Nguyễn Châu H đang điều khiển xe máy chở mẹ là bà Phan Ngọc L phanh gấp,
do chưa xảy ra va chạm nên R điều khiển xe đi tiếp. Thấy vậy ông Nguyễn Châu
H đuổi theo, khi đến trước nhà số 395 đường Âu Cơ, ông H chặn xe rồi bước
xuống đứng đối diện R, bà V xuống xe đứng cạnh R còn bà L đứng cạnh H đối diện bà V. Ông H yêu cầu R tháo mắt kính để nói chuyện nhưng R không đồng ý nên H dùng tay gỡ mắt kính thì bà V dùng tay gạt tay H, bà L liền dùng tay đánh vào mặt V, ông H dùng tay đánh vào mặt H, R dùng tay đấm trúng mặt H làm H ngã ngửa về sau, ông H dùng tay nắm áo khoác của R kéo làm R ngã ngồi lên bụng H, R tiếp tục dùng tay đấm hai cái vào đầu H. Sau đó R đứng dậy còn H nằm bất động. Bà L và V tiếp tục đánh nhau nhưng được mọi người can ngăn. Thấy H bị đánh, bà L quay lại đánh R và bị R đấm trúng một cái vào mặt. Sau đó R và người dân đưa ông H vào bệnh viện cấp cứu, đến 13 giờ 10 phút ngày 15/6/2019 thì tử vong.
Kết luận giám định số: 841/TT.19 ngày 25/7/2019 của Trung tâm Pháp y
– Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận nguyên nhân chết đối với ông Nguyễn Châu H: Chấn thương sọ não; kết luận khác: Chấn thương sọ não do vật tày tác động vào vùng đầu gây ra; nồng độ Ethanol trong máu cao.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2020/HS - ST ngày 28/4/2020 của Tòa
án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của
Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Đình R 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây
thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, bản án tuyên về trách nhiệm bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, án phí và
quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/5/2020 bị cáo Trần Đình R kháng cáo
toàn bộ bản án sơ thẩm nội dung: Do bị hại đánh bị cáo và vợ nên đã có hành vi đáp trả, hành vi của bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng quy định tại Điều 136 của Bộ luật hình sự và làm rõ nguyên nhân chết của bị hại Nguyễn Châu H;
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Đình R giữ nguyên nội dung kháng
cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội
đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo đổi tội danh vì hành vi của bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và hậu quả xảy ra là bị hại chết, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Cố ý gây thương tích là đúng người, đúng tội danh.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các tình tiết giảm nhẹ như cấp sơ thẩm đã
áp dụng như bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trước khi xét xử sơ thẩm đã bồi thường tiếp cho gia đình bị hại 100.000.000 đồng và gia đình bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo, nên có căn cứ để áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự xét xử dưới khung hình phạt, đề nghị Hội đòng xét xử phạt bị cáo từ 06 năm tù đên 07 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về nguyên nhân chết của bị hại đã được cơ quan giám định kết luận và
văn bản giải thích nội dung giám định đã được các Giám định viên trả lời cho yêu cầu của Luật sư nên không có căn cứ để chấp nhận nội dung này.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Luật sư gửi lời chia buồn đến gia
đình bị hại, cám ơn gia đình bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo,
đồng thời cám ơn đại diện Viện kiểm sát đã căn cứ các tình tiết giảm nhẹ để đề
nghị giảm mức án của cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo, mức hình phạt dưới
khung liên kề cho bị cáo. Tuy nhiên, Luật sư không đồng ý về việc Viện kiểm
sát đề nghị giữ nguyên tội danh của bị cáo R bởi vì: Trong vụ án này, bị cáo R
không hề có lỗi gì, bị cáo đi đúng đường, bên cạnh đó bị hại đã uống quá nhiều
rượu nên không điều khiển được hành vi, đã chặn xe, chửi bới nên bị cáo đã đấm
lại bị hại. Trong lúc đó thì mẹ bị hại đánh vợ bị cáo khi đang mang thai nên tinh
thần bấn loạn bị kích động mạnh. Căn cứ Nghị quyết số 04 của Hội đồng Thẩm
phán năm 1986 giải thích về phạm tội trong trường hợp bị kích động mạnh và án
lệ số 28 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo đủ dấu hiệu
về tội “cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” nên
đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét đổi tội danh cho bị cáo.
Kiểm sát viên đối đáp: Luật sư cho rằng bị cáo không có lỗi là không
đúng, hậu quả xảy ra làm bị hại chết, bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về
hậu quả đã gây ra cho bị hại, bị cáo có thể chọn phương án khác, cách thức khác
khi giải quyết mâu thuẫn giao thông như bị cáo không làm mà cố ý đấm bị hại
gây ra hậu quả làm bị hại chết, ngoài các dấu vết trên cơ thể bị hại đều do bị cáo
tác động dẫn đến bị hại chết, không có ai tham gia. Nghị quyết 04 năm 1986 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao mà Luật sư nêu, hiện nay đã cụ
thể hóa bằng bộ luật, hành vi phạm tội trong trạng thái tình thần kích động mạnh
do hành vi trái pháp luật của nạn nhân phải được cấu thành một tội, hành vi của
bị hại trong vụ án này chưa đến mức phạm tội. Bị cáo đã cùng mọi người đưa bị
hại đi cấp cứu, nếu bỏ mặc bị hại bị cáo có thể phạm tội giết người và lưu ý Luật
sư cẩn trọng sử dụng ngôn từ, cách thức khi tham gia tranh luận với Kiểm sát
viên.
Luật sư bào chữa tiếp tục tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát không trả lời
đối đáp vào các nội dung của Luật sư nêu, theo Luật sư thì văn bản của Giám
định viên kết luận nồng độ cồn trong máu của bị hại cao, không phải là nguyên
nhân chính thì ngoài ra còn có nguyên nhân khác chưa được làm rõ. Luật sư cho
rằng nồng độ cồn có tác động đến cái chết của bị hại sẽ liên quan đến khung
hình phạt áp dụng cho bị cáo, bị cáo có tội nhưng không phải tội cố ý gây
thương tích. Khi bị cáo bị áo khoác trùm lên đầu nên không thể chạy như Viện
kiểm sát cho rằng bị cáo còn có thể lựa chọn cách giải quyết khác phù hợp. Theo
Luật sư, hành vi vi phạm của bị hại là rất nghiêm trọng, hành vi bị cáo gây ra
đến đâu xử lý đến đó. Đề nghị Hội đồng xét xử quan tâm ra phán quyết một cách
công bằng, đúng đạo lý.
Luật sư và Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm, không tham gia đối đáp
bổ sung.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nội dung
kháng cáo của bị cáo.
!
!
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Tân
Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Đình R trong thời hạn luật định là hợp
lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa phúc thẩm.
[3] Căn cứ vào lời khai của bị cáo R và những tài liệu, chứng cứ có trong
hồ sơ vụ án tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Do có mâu thuẫn khi tham gia giao thông nên giữa bị cáo và bị hại đã xảy ra đánh nhau, bị hại do đã sử dụng rượu bia đánh bị cáo trước, dẫn đến bị cáo dùng tay đấm vào mặt bị hại làm bị hại ngã xuống đường, bị cáo tiếp tục đấm hai cái vào vùng đầu. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Trần Đình R cùng người dân đưa bị hại đi cấp cứu nhưng đến ngày 15/6/2019 thì tử vong.
[4] Bản án sơ thẩm số: 43/2020/HS - ST ngày 28/4/2020 của Tòa án nhân
dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử bị cáo Trần Đình R về tội cố ý gây thương tích là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Xét kháng cáo của bị cáo Trần Đình R về đề nghị thay đổi tội danh: Hội
đồng xét xử xét thấy giữa bị cáo và bị hại có mâu thuẫn khi tham gia giao thông bị cáo đã cố ý trực tiếp đánh bị hại dẫn đến bị hại tử vong thuộc trường hợp làm chết người được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Do vậy kháng cáo của bị cáo về nội dung này không được chấp nhận.
Về giảm nhẹ hình phạt: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường hậu quả đã gây ra cho gia đình bị hại, có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án tiền sự, bị hại có lỗi khi tấn công bị cáo trước nên dẫn đến hậu quả xảy ra. Trước khi xét xử phúc thẩm bị cáo đã bồi thường tiếp số tiền 100.000.000 đồng, số tiền cấp dưỡng được thực hiện hàng tháng cho hai con của bị hại, đồng thời gia đình bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết mới tại phiên tòa phúc thẩm. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự, xét xử dưới khung hình phạt đối với bị cáo.
Về nội dung kháng cáo đề nghị xem xét nguyên nhân chết của bị hại: Căn
cứ kết luận giám định của cơ quan chuyên môn về giám định pháp y tử thi và văn bản ngày 05/8/2020 của các Giám định viên tham gia giám định pháp y tử thi trả lời theo yêu cầu của Luật sư bào chữa:
- Việc đánh vào mặt là nguyên nhân dẫn đến xuất huyết dưới nhện hai bán
cầu đại não, tiểu não và quanh cầu não, hành não;
- Vật tày là vật không sắc, không nhọn, không sắc nhọn hay không có
cạnh sắc. Tay, chân được xem là vật tày;
- Nồng độ Ethanol trong máu cao không phải là nguyên nhân chính dẫn
đến cái chết của bị hại.
Do vậy nội dung kháng cáo của bị cáo về phần này không được Hội đồng
xét xử chấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên nên Hội đồng xét xử xét kháng cáo của bị
cáo xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ nên chấp nhận, sửa bản án sơ
thẩm.
[5] Về án phí: Do chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Đình R: 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo
chấp hành án.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM!
| Nơi nhận:!! ! !!!!!!! - TAND tối cao; (1) - TAND cấp cao tại Tp. HCM (1) - VKSND Tp. HCM; (3) - Tòa án nhân dân quận Tân Phú; (1) - Công an Thành phố Hồ Chí Minh; (1) - Bị cáo; (1) - Chi cục THA quận Tân Phú ; (1) - VKSND quận Tân Phú ; (2) - Công an quận Tân Phú ; (1) - Sở Tư pháp; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: THS, hồ sơ, VT (21). (6) ! | THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! Trần!Minh!Châu! |