vanban.org

Bản án 371/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/03/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lâm Thị Ngọc Q như sau: 1.

TAND Tối cao; TAND Cấp cao tại TP.HCM; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lâm Thị Ngọc Q như sau: 1.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 371/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 23-3-2021
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa – Thẩm phán: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành Thông.

Bà Nguyễn Thị Thanh Mai.

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trường An – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Phạm Phương Hạnh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 594/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1181/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Ngọc Q, sinh năm 1970.

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh

- Bị đơn: Ông Trần Văn D, sinh năm 1966.

Địa chỉ: Australia.

(Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và Bản tự khai, nguyên đơn bà Lâm Thị Ngọc Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Văn D đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 2013, quyển số 11, ngày 24/6/2002 do Ủy ban nhân dân Thành phố X cấp. Bà và ông Trần Văn D chỉ sống hạnh phúc được một khoảng thời gian đầu, sau đó do quan điểm sống không phù hợp nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Văn D.

Về con chung: Bà và ông Trần Văn D không có con chung.

Về tài sản chung: Bà và ông Trần Văn D không có tài sản chung.

Về nợ chung: Bà và ông Trần Văn D không có nợ chung.

Đối với bị đơn ông Trần Văn D hiện đang cư trú tại Australia, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu cung cấp lời khai của ông Trần Văn D về việc bà Lâm Thị Ngọc Q yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn D, nhưng ông Trần Văn D không cung cấp cho Tòa án. Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lâm Thị Ngọc Q có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án đã tiến hành thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt thông báo về ngày mở phiên tòa đối với ông Trần Văn D nhưng ông Trần Văn D vắng mặt. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với các đương sự vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Về nội dung: Bà Lâm Thị Ngọc Q và ông Trần Văn D từ lâu đã không còn chung sống, cho thấy quan hệ vợ chồng giữa bà Lâm Thị Ngọc Q và ông Trần Văn D hiện nay không tồn tại trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được nên có cơ sở để chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lâm Thị Ngọc Q. Về con chung, về tài sản chung và về nợ chung bà Lâm Thị Ngọc Q khai không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định: Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 04/9/2019, bà Lâm Thị Ngọc Q đang cư trú tại Việt Nam có đơn xin ly hôn với ông Trần Văn D hiện đang cư trú tại Australia. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về tố tụng: Nguyên đơn là bà Lâm Thị Ngọc Q có đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm theo Đơn đề nghị xét xử vắng mặt của bà Lâm Thị Ngọc Q. Ngày 24/02/2020, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 210/UTTPDS-TA30 về việc tương trợ tư pháp gửi Bộ Tư pháp để ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Australia thực hiện việc tống đạt Thông báo về việc thụ lý, ngày giờ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, mở phiên tòa vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm đối với ông Trần Văn D đang cư trú tại Australia. Ngày 09/12/2020, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 972/TAND-CV về việc thông báo trên Cổng thông tin điện tử gửi Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Australia để niêm yết Thông báo cho bị đơn về việc giải quyết vụ án ly hôn tại trụ sở Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Australia và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Australia trong thời hạn 01 (Một) tháng đối với ông Trần Văn D.

Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Australia đã có Công điện số 14-2021/LS-UTTP ngày 03/3/2021 gửi Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh với nội dung thông báo kết quả thực hiện ủy thác tư pháp.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228, và Điểm b Khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Lâm Thị Ngọc Q và ông Trần Văn D có quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp và thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ vào các chứng cứ mà Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thu thập được từ Bản tự khai của bà Lâm Thị Ngọc Q, có cơ sở để xác định rằng mục đích của hôn nhân giữa bà Lâm Thị Ngọc Q và ông Trần Văn D đã không đạt được. Về phía ông Trần Văn D, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài hợp lệ, nhưng ông Trần Văn D không có văn bản trả lời hay đơn đề nghị xét xử vắng mặt, điều này chứng tỏ ông Trần Văn D không quan tâm đến cuộc hôn nhân này nữa. Do đó, việc bà Lâm Thị Ngọc Q khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xem xét giải quyết cho bà Lâm Thị Ngọc Q được ly hôn đối với ông Trần Văn D là có căn cứ để chấp nhận.

Về con chung: Bà Lâm Thị Ngọc Q khai không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Lâm Thị Ngọc Q khai không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Bà Lâm Thị Ngọc Q khai không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lâm Thị Ngọc Q là nguyên đơn yêu cầu ly hôn nên căn cứ vào Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà Lâm Thị Ngọc Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 37, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 273, Điểm b Khoản 5 Điều 477, và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lâm Thị Ngọc Q như sau: 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị Ngọc Q được ly hôn với ông Trần Văn D. Quan hệ hôn nhân giữa bà Lâm Thị Ngọc Q và ông Trần Văn D chấm dứt, Giấy chứng nhận kết hôn số 2013, quyển số 11, ngày 24/6/2002 do Ủy ban nhân dân Thành phố X cấp không còn giá trị kể từ khi bản án này có hiệu lực pháp luật. 2. Về con chung: Bà Lâm Thị Ngọc Q khai không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết. 3. Về tài sản chung: Bà Lâm Thị Ngọc Q khai không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết. 4. Về nợ chung: Bà Lâm Thị Ngọc Q khai không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết. 5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lâm Thị Ngọc Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà Lâm Thị Ngọc Q đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0024799 ngày 24/10/2019 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lâm Thị Ngọc Q đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền. 6. Về quyền kháng cáo bản án: Bà Lâm Thị Ngọc Q vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, nên quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đối với bà Lâm Thị Ngọc Q là 15 ngày, kể từ ngày bà Lâm Thị Ngọc Q được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Ông Trần Văn D không có mặt tại phiên tòa, nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ