vanban.org

Bản án 371/2020/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 10/08/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/08/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Ngọc H 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Ngọc H - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 328 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 371/2020/HS-PT
Ngày: 10 - 8 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Châu

Các Thẩm phán:

1. Ông Lê Công Huân

2. Bà Đoàn Thị Hương Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Bà Võ Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 229/2020/TLPT-HS, ngày

08/6/2020 đối với bị cáo Lê Ngọc H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án

hình sự số: 46/2020/HS-ST ngày 27/4/2020 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành

phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Lê Ngọc H; sinh ngày 08/6/1995; tại tỉnh Tiền Giang; hộ khẩu thường trú:

Ấp AT, xã AC, huyện CB, tỉnh Tiền Giang; tạm trú: Quốc lộ X, xã BH, huyện

BC, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ văn

hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông LHN và bà

TTM; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/12/2019 đến ngày 15/01/2020 được tại

ngoại; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ, ngày 17/12/2019, Nguyễn Văn N, Nguyễn Thanh P cùng

với bốn người bạn đến ăn uống và hát karaoke tại nhà hàng M tại đường L, phường B, Quận A. Lê Ngọc H là quản lý nhà hàng điều 06 tiếp viên nữ của nhà hàng trong đó có Lê Hồng L1 và Phạm Thị Thanh T vào phục vụ. Đến khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, P, N có nhu cầu mua dâm L1, T nên báo cho H, H đồng ý cho L1, T bán dâm giá 5.000.000 đồng/người/lần. N, P đưa H 10.000.000 đồng, H đưa cho T, L1 mỗi người 5.000.000 đồng, T đưa H 500.000 đồng tiền môi giới, riêng L1 hẹn đưa sau. Sau đó, N, P, L1, T đưa nhau đến khách sạn U địa chỉ đường L, phường B, Quận A thực hiện hành vi mua bán dâm. Đến khoảng 00 giờ 50 phút ngày 18/12/2019 bị các trinh sát Công an Quận 1 kiểm tra, phát hiện đưa các đối tượng mua, bán dâm về Công an phường Bến Thành làm rõ, qua lời khai của các đối tượng xác định Lê Ngọc H là quản lý nhà hàng M đường L, phường B có hành vi môi giới mại dâm nên tiến hành tạm giữ để lập hồ sơ xử lý.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2020/HS-ST ngày 27/4/2020 của Tòa án

nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc H phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Áp dụng điểm đ khoản 2, khoản 4 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2

Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính

từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Trừ thời gian tạm giam từ ngày 18/12/2019 đến ngày 15/01/2020.

Phạt bổ sung bị cáo Lê Ngọc H số tiền 10.000.000 đồng nộp ngân sách

nhà nước.

Ngoài ra, bản án tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo

theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/5/2020 bị cáo Lê Ngọc H kháng cáo xin

giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Ngọc H giữ nguyên nội dung kháng

cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân

tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, số tiền thu lợi 500.000 đồng có giá trị không lớn và chưa sử dụng số tiền này cho bản thân cấp sơ thẩm xét xử bị cáo với mức án 03 năm 06 tháng tù là có phần nghiêm khắc.

Về kháng cáo xin hưởng án treo: Trước khi xét xử phúc thẩm, bị cáo nộp

đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn, cha ruột bị bệnh không còn khả năng lao động, bị cáo là lao động chính được chính quyền địa phương xác nhận. Đồng thời căn cứ Nghị quyết 02 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo đủ điều

kiện được hưởng án treo, nên đề N Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo

của bị cáo Lê Ngọc H, xử phạt bị cáo 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời

gian thử thách 05 năm để bị cáo có điều kiện chăm sóc cha bệnh và cùng đủ răn

đe, giáo dục bị cáo.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm hình phạt, xin được hưởng án treo để

có điều kiện chăm sóc cha mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1,

Thành phố Hồ Chí Minh; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân Quận 1, Thành phố

Hồ Chí Minh; Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh;

Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm

quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra

và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của

Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết

định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện

đều hợp pháp.

[2] Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Ngọc H trong thời hạn luật định là hợp

lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa phúc thẩm.

[3] Căn cứ vào lời khai của bị cáo Lê Ngọc H tại cơ quan điều tra và tại

phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ như biên bản bắt người có hành vi phạm

tội quả tang, người làm chứng có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở xác định: Bị

cáo Lê Ngọc H có hành vi môi giới hai người bán dâm thực hiện việc bán dâm

cho hai khách mua dâm tại nhà hàng M tại địa chỉ đường L, phường B, Quận A,

Thành phố Hồ Chí Minh.

[4] Bản án sơ thẩm số: 46/2020/HS - ST ngày 27/4/2020 của Tòa án nhân

dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử bị cáo Lê Ngọc H về tội “môi giới

mại dâm” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Hành vi của bị cáo là trái thuần

phong mỹ tục, đạo đức xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội ở địa

phương, phạm tội đối với 02 người nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm đ

khoản 2 Điều 328 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và

áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội

lần đầu được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự

2015, sửa đổi bổ sung 2017 để xử phạt bị cáo Lê Ngọc H 03 năm 06 tháng tù là

có phần nghiêm khắc. Vì theo điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự có

khung hình phạt từ 03 năm tù đến 07 năm. Mặt khác, trước khi mở phiên tòa

phúc thẩm bị cáo nộp cho Hội đồng xét xử đơn xác nhận gia đình hoàn cảnh khó

khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, có cha bị mổ não, hiện nằm một

chỗ, không tự sinh hoạt bản thân, và đang điều trị phục hồi chức năng, bản thân bị cáo là lao động chính nuôi gia đình, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc cho bị cáo hưởng án treo không vi phạm

N quyết 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo là có căn cứ nên chấp nhận, sửa bản án sơ thẩm.

[5] Về án phí: Do chấp nhận kháng cáo nên bị cáo không phải chịu án phí

hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng N đã

có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng N.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ

luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ điểm đ khoản 2, khoản 4 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều

51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc H 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời

gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Phạt bổ sung bị cáo Lê Ngọc H số tiền 10.000.000 đồng nộp ngân sách

nhà nước.

Giao bị cáo Lê Ngọc H cho Ủy ban nhân dân xã An Cư, huyện Cái Bè,

tỉnh Tiền Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách;

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Lê Ngọc H cố ý vi phạm nghĩa vụ

theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng N đã

có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng N.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Đã giải thích chế định án treo.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ