- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trịnh Thanh Hoàng Y yêu cầu ly hôn với ông Phạm Kiều H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trịnh Thanh Hoàng Y đối với ông Phạm Kiều H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 370/2024/HNGĐ-ST Ngày: 08 - 5 - 2024 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP.HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Xuân Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trương Hồng Vân
2. Ông Nguyễn Quang Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 826/2023/TLST–HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 117/2023/QĐST–HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trịnh Thanh Hoàng Y, sinh năm 1986
Địa chỉ: Tổ A, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố H.
2. Bị đơn: Ông Phạm Kiều H, sinh năm 1983
Địa chỉ: Ấp S, xã N, huyện C, Thành phố H.
Tạm trú: Nhà không số, Ấp S, xã N, huyện C, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Trịnh Thanh Hoàng Y trình bày:
Bà Trịnh Thanh Hoàng Y và ông Phạm Kiều H tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân năm 2005, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 106, quyển số 01 ngày 28 tháng 10 năm 2005. Thời gian đầu bà Y và ông H chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do ông H thường xuyên ăn nhậu, không có trách nhiệm với gia đình, không lo làm ăn, không chăm sóc vợ con. Bà Y có khuyên nhủ nhiều lần, nhưng ông H không thay đổi nên bà Y đưa con chung về nhà mẹ ruột sinh sống tại xã T, huyện C, Thành phố H từ tháng 7/2020 đến nay. Trong thời gian ly thân, ông H không liên hệ với bà Y để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay xét thấy đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên bà Y yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Y được ly hôn với ông H.
Về con chung: Bà Y và ông H chung sống với nhau có một con chung tên Phạm Kiều Hạ L, sinh ngày 26/3/2011, giới tính nữ, hiện đang sống chung với bà Y. Khi ly hôn, bà Y yêu cầu được trực tiếp nuôi trẻ L, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Y xác nhận bà Y và ông H không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Y xác nhận bà Y và ông H không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Phạm Kiều H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng ông H vẫn vắng mặt, không rõ lý do; ông H cũng không cung cấp cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thanh Hoàng Y nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trịnh Thanh Hoàng Y vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Phạm Kiều H; yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con; và xác định không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Bị đơn ông Phạm Kiều H vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định.
Về nội dung:
- Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Trịnh Thanh Hoàng Y về việc ly hôn với ông Phạm Kiều H.
- Về con chung: Giao con chung là trẻ Phạm Kiều Hạ L, sinh ngày 26/3/2011 cho bà Trịnh Thanh Hoàng Y trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng của ông H cho đến khi bà Y có yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn bà Trịnh Thanh Hoàng Y yêu cầu được ly hôn với bị đơn ông Phạm Kiều H. Đây là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn cư trú tại huyện Bình Chánh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
. Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Phạm Kiều H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H.
. Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 106, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố H cấp ngày 28/10/2005 thì hôn nhân giữa bà Trịnh Thanh Hoàng Y với ông Phạm Kiều H là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Theo lời bà Y trình bày thì bà Y và ông H phát sinh mâu thuẫn từ năm 2020, nguyên nhân là do ông H không có trách nhiệm với gia đình, không lo làm ăn, không chăm sóc vợ con. Bà Y đã khuyên nhủ nhiều lần, nhưng ông H vẫn không thay đổi nên bà Y đưa con chung về nhà mẹ ruột sinh sống tại xã T, huyện C, Thành phố H và chính thức sống ly thân với ông H từ tháng 7/2020. Nay bà Y không còn tình cảm với ông H, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên bà Y yêu cầu Tòa án cho bà Y được ly hôn với ông H.
Đối với ông Phạm Kiều H, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng ông H vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu ly hôn của bà Y, chứng tỏ ông H không có thiện chí đoàn tụ.
Mặt khác, căn cứ kết quả xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà Y và ông H tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, Thành phố H thì:
- Trong quá trình sinh sống tại địa phương, cuộc sống hôn nhân giữa bà Trịnh Thanh Hoàng Y và ông Phạm Kiều H có xảy ra mâu thuẫn (không rõ nguyên nhân). Ủy ban nhân dân xã không tiến hành giải quyết mâu thuẫn về hôn nhân giữa bà Y và ông H do không có yêu cầu.
- Bà Trịnh Thanh Hoàng Y và ông Phạm Kiều H không còn sống chung với nhau.
- Bà Y và ông H có 01 con chung; hiện con chung đang sống cùng với bà Y.
Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Y và ông H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên việc bà Y xin ly hôn với ông H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về con chung: Bà Y xác định bà Y và ông H có một con chung tên Phạm Kiều Hạ L, sinh ngày 26/3/2011, giới tính nữ, hiện đang sống chung với bà Y. Khi ly hôn, bà Y yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ L.
Hội đồng xét xử xét thấy, trẻ L hiện đang do bà Y nuôi dưỡng kể từ khi ông H không còn sống chung với bà Y và trẻ L có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với bà Y sau khi cha mẹ ly hôn. Vì vậy để bảo đảm quyền lợi mọi mặt của con chung cần giao trẻ L cho bà Y được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Y không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
. Về tài sản chung: Bà Y trình bày bà Y và ông H không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra để giải quyết.
. Về nợ chung: Bà Y trình bày bà Y và ông H không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra để giải quyết.
. Về án phí: Bà Trịnh Thanh Hoàng Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trịnh Thanh Hoàng Y đối với ông Phạm Kiều H.
Bà Trịnh Thanh Hoàng Y được ly hôn với ông Phạm Kiều H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 106, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố H cấp ngày 28 tháng 10 năm 2005 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Giao 01 (một) con chung tên Phạm Kiều Hạ L, sinh ngày 26/3/2011, giới tính nữ cho bà Trịnh Thanh Hoàng Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà Y không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Người trực tiếp nuôi con chung có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi khi người không trực tiếp nuôi con đến thăm nom, chăm sóc con chung. Không ai có quyền cản trở quyền thăm nom con chung.
Người không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con khi cần thiết đôi bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Bà Trịnh Thanh Hoàng Y xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra để giải quyết.
4. Về nợ chung: Bà Trịnh Thanh Hoàng Y xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra để giải quyết.
5. Về án phí: Bà Trịnh Thanh Hoàng Y phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0020446 ngày 12/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Đương sự; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Xuân Hương |