- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc G:
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 370/2023/HNGĐ-ST Ngày: 19-5-2023 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Nga
Bà Nguyễn Thị Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thọ – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 840/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 117/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2023, giữa:
Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc G, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Xã Đ, huyện B, Thành phố H.
Bị đơn: Ông Lý Huy H, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Xã Đ, huyện B, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 8 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Lê Ngọc G đều trình bày:
Bà và ông Lý Huy H tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 15, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 303, quyển số 01/2008 ngày 16 tháng 12 năm 2008. Trong quá trình chung sống, cuộc sống chung không hạnh phúc, thường xảy ra mâu thuẫn trầm trọng do không hợp nhau về tính cách, quan điểm sống, vợ chồng không có sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Hai bên đã cố khắc phục nhưng không có kết quả. Nay, bà nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn không có khả năng hàn gắn, không thể quay lại chung sống nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lý Huy H.
Về con chung: Có hai người con chung là trẻ Lý Thanh T, sinh ngày 22/8/2009, giới tính: Nữ và trẻ Lý Hưng T, sinh ngày 16/01/2014, giới tính: Nam. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là trẻ Lý Thanh T và trẻ Lý Hưng T, không yêu cầu ông H cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Ngọc G khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn là ông Lý Huy H không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định pháp luật và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là bà Lê Ngọc G khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là ông Lý Huy H cư trú tại E2/64A2, ấp 5, xã Đa Phước, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. [2] Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [3] Về nội dung: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 15, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 303, quyển số 01/2008 ngày 16 tháng 12 năm 2008 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. [4] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hoà giải nhằm tạo điều kiện cho vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ nhưng bị đơn vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, còn nguyên đơn có Đơn xin không tiến hành hòa giải đề ngày 01 tháng 3 năm 2023, thể hiện nguyên đơn và bị đơn không có thiện chí muốn hàn gắn và đoàn tụ. [5] Theo Kết quả xác minh ngày 16/12/2022 của Ủy ban nhân dân xã Đa Phước, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh thì Ủy ban nhân dân xã trả lời hiện nay bà Lê Ngọc G và ông Lý Huy H không còn sống chung với nhau, Ủy ban không rõ nguyên nhân phát sinh tranh chấp ly hôn. [6] Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình. [7] Về nuôi con: Nguyên đơn yêu cầu được nuôi con chung là trẻ Lý Thanh T, sinh ngày 22/8/2009, giới tính: Nữ và trẻ Lý Hưng T, sinh ngày 16/01/2014, giới tính: Nam, vì từ trước đến nay con vẫn ở với nguyên đơn. Theo Biên bản ghi nhận ý kiến trẻ đề ngày 24/11/2022 và ngày 02/12/2022 của trẻ Lý Hưng T và trẻ Lý Thanh T thì hiện nay trẻ Thảo, trẻ Thịnh đang sống cùng với mẹ; nếu nguyên đơn và bị đơn không sống chung với nhau nữa thì trẻ Thảo, trẻ Thịnh muốn sống với nguyên đơn.
Tại Kết quả xác minh ngày 16/12/2022 của Ủy ban nhân dân xã Đa Phước, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh thì Ủy ban nhân dân xã được trẻ Lý Thanh T và trẻ Lý Hưng T đang ở với bà Lê Ngọc G.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình, sau khi xem xét quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên, cần giao con chung là trẻ Lý Thanh T, sinh ngày 22/8/2009, giới tính: Nữ và trẻ Lý Hưng T, sinh ngày 16/01/2014, giới tính: Nam, cho nguyên đơn là bà Lê Ngọc G trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Ngọc G không yêu cầu ông Lý Huy H cấp dưỡng cho con. Vì quyền lợi của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi mức cấp dưỡng hoặc người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung: Nguyên đơn khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57 và Điều 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc G:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Ngọc G được ly hôn với ông Lý Huy H.
Về nuôi con: Giao con chung là trẻ Lý Thanh T, sinh ngày 22/8/2009, giới tính: Nữ và trẻ Lý Hưng T, sinh ngày 16/01/2014, giới tính: Nam, cho bà Lê Ngọc G trực tiếp nuôi.
Không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì quyền lợi của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi mức cấp dưỡng hoặc người trực tiếp nuôi con.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Ngọc G không yêu cầu ông Lý Huy H cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Ngọc G khai không có. 2. Về án phí: Bà Lê Ngọc G phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2021/0041691 ngày 28 tháng 9 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Ngọc G đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 3. Về quyền kháng cáo: Bà Lê Ngọc G và ông Lý Huy H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Gia Nam
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Gia Nam |