- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D phạm tội trộm cắp tài sản; - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG —————————— Bản án số: 370/2022/HS-ST Ngày 13- 12- 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Quân;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;
2. Bà Hoàng Lệ Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2022 tại Điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thành phố D và điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 325/2022/HSST ngày 28 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 369/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D, sinh năm 1998 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Bảo vệ; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1967 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1973; có 01 anh ruột, sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 18/7/2022, có mặt.
- Bị hại:
1. Ông Nguyễn Hoàng Phi L, sinh năm 1999; trú tại: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Đức V, sinh năm 1989; trú tại: đường C, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Nguyễn Hoài B, sinh năm 1994; thường trú: Đường Q, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
2. Bà Đỗ Thị M, sinh năm 1973; trú tại: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn D với anh Nguyễn Ngọc C làm chung Công ty dịch vụ bảo vệ Đ, địa chỉ khu phố T, phường Đ, thành phố D. Anh C ở một mình tại nhà nghỉ A, địa chỉ: Nguyễn An N, khu phố N, phường D, thành phố D nên D đến ở cùng.
Khoảng 11 giờ ngày 15/7/2022, D thấy anh Nguyễn Hoàng Phi L cũng là nhân viên của Công ty Đ điều khiển xe mô tô hai bánh, biển số 78L1-036.81 về nhà nghỉ A dựng xe tại tầng trệt sau đó đi về quê, D nhìn thấy xe của anh L có cắm sẵn chìa khóa trên xe nên D tự ý điều khiển xe của anh L đi uống cà phê. Sau đó D đem xe về để lại ở vị trí cũ và cất giữ chìa khóa. Đến khoảng 22 giờ, ngày 16/7/2022 thấy trong nhà không có ai D lấy chìa khóa xe mở ổ khóa xe rồi điều khiển xe mô tô biển số: 78L1-036.81 đi đến đường Phạm Văn Đ, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh rồi lấy điện thoại di động hiệu Iphone XS của mình ra dò tìm trên mạng thì thấy anh Nguyễn Hoài B, trú tại Quang T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh đăng thông tin nhận cầm các loại xe chính chủ và không chính chủ nên D thỏa thuận cầm xe mô tô biển số: 78L1-036.81với giá là 3.500.000 đồng và hẹn gặp tại quán cà phê tại địa chỉ Quang T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi kiểm tra xe và chụp lại căn cước công dân của D, anh B đã giao số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng) cho D đồng thời viết cho D 01 tờ giấy giữ xe, sau đó D quay trở lại nhà nghỉ A.
Đến khoảng 18 giờ, ngày 17/7/2022, D lợi dụng lúc chủ nhà nghỉ Ađi khỏi quầy lễ tân, D đã lén lút đi tới quầy lễ tân kéo ngăn tủ ra và chiếm đoạt số tiền 4.700.000 đồng và bỏ trốn. Sau khi phát hiện bị mất tiền anh Nguyễn Đức V là chủ nhà nghỉ A xem lại camera phát hiện D lấy trộm tiền nên đến Cơ quan Công an trình báo. Đến ngày 18/7/2022 D ra đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ: xe môtô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn bạc - đen, biển số 78L1-036.81, số khung: 630CY664399, số máy: 5C63664442.
Kết luận định giá số 86/BB-ĐG ngày 25/7/2022, của Hội đồng định giá tài sản thành phố D, kết luận: xe môtô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn bạc - đen, biển số 78L1-036.81, số khung: 630CY664399, số máy: 5C63664442, có trị giá 10.000.000 đồng.
- Đối với điện thoại di động hiệu Iphone XS của D dùng liên lạc với tên B để cầm xe, D bán cho 01 tiệm điện thoại trong khu công nghiệp Đ nhưng không nhớ rõ địa chỉ nên không thu hồi được.
- Đối với hành vi của Nguyễn Hoài B nhận cầm xe môtô hai bánh, biển số 78L1-036.81, không biết tài sản do D chiếm đoạt của người khác nên không xử lý về trách nhiệm hình sự.
Tại cáo trạng số 357/CT–VKS ngày 28 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Ngày 15/9/2022, trả cho chủ sở hữu là chị Đỗ Thị M là mẹ của anh Nguyễn Hoàng Phi L 01 xe môtô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn bạc - đen, biển số 78L1-036.81, số khung: 630CY664399, số máy: 5C63664442II.
Trách nhiệm dân sự:
- Bị hại Nguyễn Hoàng Phi L đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thường nên trách nhiệm Dân sự không đặt ra.
- Anh Nguyễn Hoài B không yêu cầu D bồi thường số tiền 3.500.000 đồng nên trách nhiệm Dân sự không đặt ra.
- Anh Nguyễn Đức V không yêu cầu D bồi thường số tiền 4.700.000 đồng nên trách nhiệm Dân sự không đặt ra.
Trước khi hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại cơ quan điều tra, người tham gia tố tụng không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nội dung vụ án: Khoảng 22 giờ ngày 16/7/2022 và ngày 17/7/2022, tại địa chỉ Nguyễn An N, khu phố N, phường D, thành phố D, Nguyễn Văn D đã có hành vi lét lút chiếm đoạt của anh Nguyễn Hoàng Phi L 01 xe môtô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 78L1-036.81, trị giá 10.000.000 đồng và chiếm đoạt của anh Nguyễn Đức V số tiền 4.700.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Văn D là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của các bị hại, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 357/CT–VKS ngày 28 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố D và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của các bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Xử lý vật chứng: Ngày 15/9/2022, trả cho chủ sở hữu là chị Đỗ Thị M là mẹ của anh Nguyễn Hoàng Phi L 01 xe môtô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn bạc - đen, biển số 78L1-036.81, số khung: 630CY664399, số máy: 5C63664442II.
Trách nhiệm dân sự:
- Bị hại Nguyễn Hoàng Phi L đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường nên trách nhiệm Dân sự không đặt ra.
- Anh Nguyễn Hoài B không yêu cầu D bồi thường số tiền 3.500.000 đồng nên trách nhiệm Dân sự không đặt ra.
- Anh Nguyễn Đức V không yêu cầu D bồi thường số tiền 4.700.000 đồng nên trách nhiệm Dân sự không đặt ra.
Mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2022.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Bị cáo (01); - VKSND tp D (01); - Công an tp D (01); - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01); - Chi cục THADS tp D (01); - TAND tỉnh Bình Dương (01); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - Phòng PV 27 CA tỉnh BD (01); - Phòng PC 81 CA tỉnh BD (01); - UBND xã nơi bị cáo TT (01); - Lưu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Ngọc Quân |