- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang H - phạm tội cướp tài sản (điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang H1 phạm tội: “Cướp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 133 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 370/2017/HSST Ngày 27 tháng 12 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Yến
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đoàn Xuân Miễn
2. Bà Phạm Thị Bích Hợp
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân Quận Hai Bà Trưng – thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Linh – Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 27.12.2017, tại trụ sở, Toà án nhân dân Quận Hai Bà Trưng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 437/2017/HSST ngày 16.11.2017 đối với bị cáo: Nguyễn Quang H1; Sinh năm: 1999. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Tổ 10, phường L, quận H, Hà Nội. Nghề nghiệp: Không. Văn hoá: 06/12. Con ông: Nguyễn Quốc H2 (c). Con bà: Đỗ Thanh T. Danh chỉ bản số 444 ngày 31.08.2017 do công an quận Hai Bà Trưng cung cấp. Tiền án, tiền sự: Không. Bắt tạm giam ngày 30.08.2017. Bị cáo có mặt tại phiên tòa. * Người bị hại: Chị Phan Thu H3 (SN: 1975, trú tại: tập thể T, phường T, quận H, Hà Nội). Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền kinh doanh nên chị Phan Thu H3 (SN 1975, ĐKHKTT: tập thể T, phường T, phường T, quận H, Hà Nội đã đến cửa hàng tài chính Gia Hưng Phát tại số 109 ngõ 29 Tạ Quang Bửu, Hà Nội của Phan Duy K1 (SN 1987, Chỗ ở: ngõ 179/169/24 V, phường V, quận H, Hà Nội) để vay 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Người đưa tiền cho chị H3 vay là N nhân viên của cửa hàng. Theo thỏa thuận số tiền nợ phải trả trong 60 ngày, mỗi ngày chị H3 phải trả 100.000 đồng cho cửa hàng. Chị H3 đã trả tiền được 45 ngày 4.500.000 đồng, còn nợ lại 1.500.000 đồng. Sau đó, do bận việc gia đình nên chị H3 không trả tiền một tuần. Sau đó, chị H3 nhờ em họ là Hoàng Duy K2 (SN: 1992, trú tại: Ngõ V, phường V, quận H, Hà Nội) trả cho cửa hàng 1.000.000 đồng. K2 trả tiền hộ xong có về thông báo cho chị H3 số tiền chị còn nợ tại cửa hàng là 3.000.000đồng gồm cả tiền phạt do trả chậm một tuần.
Khoảng 15h ngày 27/8/2017, khi Nguyễn Quang H1 đang ngủ ở cửa hàng thì N gọi H1 dậy rủ đi thu tiền nợ của khách. H1 đồng ý và lấy xe máy Dream đưa cho N cầm lái chở V cũng là nhân viên của cửa hàng đi cùng. V ngồi giữa còn H1 ngồi sau cùng. Trên đường đi, N nói với H1 mục đích là đi đòi nợ khách ở phố Vọng số tiền 3.000.000đồng. Khi đi đến địa chỉ 269 Phố Vọng, N và V vào cửa hàng buôn bán quần áo của chị H3, còn H1 đứng ngoài cửa đợi. N, V chửi chị H3: “Bà hẹn tôi kiểu gì, bây giờ không trả tiền cho tôi lại trả cho người khác”. Chị H3 xin khất nợ thì N,V chửi: “Đm bà tiền của chúng tôi bây giờ như thế nào”. Một lúc sau, chị H3 quay ra chỗ H1 đứng và hẹn H1 khoảng 19h quay lại chị H3 sẽ trả tiền nợ. H1 bảo N và V đi về. Đến khoảng 19h cùng ngày, H1 nói với N và V chị H3 là chị họ của H1 nên H1 sẽ tự đi đòi tiền và quay lại cửa hàng gặp chị H3. H1 nói: “Thế tiền nong như thế nào”. Chị H3 nói: “Tao chưa có”. H1 bảo: “Chị làm ăn kiểu trẻ con”. Chị H3 nói: “mày muốn làm gì tao thì làm”. Nghe chị H3 nói vậy, H1 bảo chị H3 là đồ súc vật. Sau đó, H1 dùng tay phải đánh một cái vào vai phải và một cái vào đằng sau gáy chị H3, vừa đánh H1 vừa nói: “Ý mày như thế nào, mày có tiền trả không”. Sau đó chị H3 bỏ chạy ra Công an phường Đồng Tâm trình báo sự việc. H1 được Công an phường đưa về trụ sở để làm rõ.
Do thương tích không đáng kể nên chị H3 từ chối đi khám thương, tử chối giám định thương tích; không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H1.
Đối với Phan Duy K1: Quá trình điều tra, K1 khai nhận từ khoảng cuối 2016, K1 cùng T, P (là bạn xã hội không rõ nhân thân lại lịch) góp vốn mở cửa hàng cho thuê xe Gia Hưng Phát tại địa chỉ 29 Tạ Quang Bưu, phường Bách Khoa, Hai Bà Trưng, Hà Nội và cho vay lãi; còn V, N và H1 đều là nhân viên của cửa hàng, nhiệm vụ thu tiền của khách. Tại cửa hàng khách của ai thì người đó viết giấy vay nợ. K1 biết việc H3 vay tiền của cửa bàng, nhưng không biết H3 là khách của ai trong cửa hàng. K1 không phải trực tiếp là người cho H3 vay tiền và giấy tờ vay tiền của H3 hiện ai đang giữ nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với N, V: Hiện không xác định được địa chỉ cụ thể. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không làm rõ được. Do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Tại bản cáo trạng số 357/CT/VKS-HS ngày 31.10.2017 của Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trưng thì bị cáo Nguyễn Quang H1 bị truy tố về tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 điều 133 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Kết thúc thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trưng luận tội đối với bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi đánh giá chứng cứ đã đề nghị:
Áp dụng: khoản 1 Điều 133, điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H1 với mức hình phạt từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù.
Về bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận bồi thường nên không xét.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu trên. Bị cáo nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà, là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15h ngày 27/8/2017, tại cửa hàng quần áo số 269 Phố Vọng, phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Nguyễn Quang H1 đã có hành vi dùng vũ lực chiếm đoạt số tiền 3.000.000đồng của chị Phan Thu H3. Hành vi của bị cáo Nguyễn Quang H1 đã phạm tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 điều 133 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản được nhà nước bảo vệ, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến an toàn xã hội, bị nhà nước quy định là tội phạm. Do vậy cần xử lý nghiêm khắc trước pháp luật để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Xét nhân thân bị cáo Nguyễn Quang H1 chưa có tiền án, tiền sự lần đầu bị truy tố xét xử. Tại toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại. Người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Trong vụ án này Hội đồng xét xử xét thấy người bị hại có một phần lỗi, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về bồi thường dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự nên Tòa không xét.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định trên!
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang H1 phạm tội: “Cướp tài sản”
Áp dụng: khoản 1 điều 133, điểm b, p Khoản 1, 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 76, điều 99, điều 231, điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Nguyễn Quang H1 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30.8.2017.
Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND Quận Hai Bà Trưng; - Công an Quận Hai Bà Trưng; - THA Quận Hai Bà Trưng; - Sở Tư pháp; - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu VP | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Nguyễn Thị Hải Yến |