- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà S - ông N"
- Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án: 37/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30-01-2024 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Phước Tân và ông Ngô Văn Thi.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thanh Trúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 337/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 623/2023/QĐXXST-HN ngày 25 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phan Thị Thúy S, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ G, ấp B, xã N, huyện A, tỉnh An Giang.
(Bà S có đơn xin xét xử vắng mặt, ông N vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Phan Thị Thúy S trình bày: Hôn nhân của bà Phan Thị Thúy S và ông Nguyễn Văn N là do mai mối, có tổ chức lễ cưới năm 2013, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 13/3/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, gia đình có khó khăn về kinh tế, ông N không quan tâm vợ con nên cả hai đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay, gia đình hau bên cũng có đứng ra khuyên ngăn nhưng không thành. Tình cảm vợ chồng không còn nên bà S yêu cầu ly hôn với ông N.
Về con chung: Có 01 con chung: Nguyễn Thùy L, sinh ngày 10/12/2014. Hiện cháu L đang sống với bà S. Sau khi ly hôn, bà S yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong vụ án này kể từ khi thụ lý cho đến khi Tòa án ra thông báo phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì ông N vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử nghĩ nên cần tiến hành việc xét xử mà không qua thủ tục hòa giải.
Tòa án tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để các bên tiếp cận, đương sự thống nhất với những tài liệu, chứng cứ mà mình cung cấp, không bổ sung thêm.
Biên bản ghi lời khai ngày 26/10/2023, người thân bà S cung cấp: Cuộc sống hôn nhân của bà S và ông N thường hay xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông N không lo cho vợ con, cả hai đã không còn sống chung từ năm 2016 cho đến nay, gia đình hai bên cũng đứng ra hàn gắn nhưng không thành; về con chung thì có 01 con chung, hiện đang được bà S nuôi dạy, ông N đi làm xa cũng không thường xuyên về thăm con.
Biên bản xác minh ngày 15/12/2023, ông Phạm Văn T – Phó ấp B, xã N, huyện A cung cấp: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1985 vẫn còn đăng ký thường trú tại 07, ấp B, xã N, huyện A, tỉnh An Giang. Ông N hiện nay đi làm ăn xa nhưng có về địa phương.
Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do Công an xã N cung cấp ngày 29/11/2023, ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1985, hiện đăng ký thường trú tại ấp B, xã N, huyện A, tỉnh An Giang.
Tại phiên toà: Bà S vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, ông N vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi; thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sợ vụ án cho thấy hôn nhân của bà S, ông N có mâu thuẫn trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu nhưng hai bên không có thiện chí hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà S theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Con chung đang sinh sống cùng bà S và cũng có nguyện vọng tiếp tục sống với bà S, để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý của cháu sau này được tốt đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà S, giao con chung cho bà S được tiếp tục nuôi dạy. Công nhận sự tự nguyện của bà S về việc không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Phan Thị Thúy S yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn N. Ông N cư trú tại huyện A, tỉnh An Giang nên được Tòa án thụ lý giải quyết theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bà S và ông N vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà S, ông N theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Quan hệ hôn nhân giữa bà S, ông N do tự tìm hiểu yêu thương tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, tỉnh An Giang vào ngày 13/3/2015 nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu của bà S xin ly hôn với ông N Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà S, ông N phát sinh từ lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn và đã sống ly thân từ năm 2017. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã hòa giải đoàn tụ cho cả hai nhưng ông N không có mặt để hàn gắn tình cảm, bà S cương quyết ly hôn. Cho thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa hai bên đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, điều này là phù hợp với lời trình bày của người thân trong gia đình bà S, ông N, nên yêu cầu ly hôn của bà S là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà S và ông N có 01 con chung: Nguyễn Thùy L, sinh ngày 10/12/2014. Hiện con chung đang sống với bà S. Xét thấy, cháu L đang sống cùng bà S và cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống với bà S, do đó để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý đối với con chung và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên nên Hội đồng xét xử tiếp tục để bà S nuôi dạy con chung.
Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn cha hoặc mẹ là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà S không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của đương sự.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà S xác định không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định có tài sản chung, nợ chung thì các đương sự có thể khởi kiện và sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí: Bà S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Các Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Thúy S.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Thúy S được ly hôn với ông Nguyễn Văn N.
Về con chung: Bà Phan Thị Thúy S được tiếp tục nuôi dạy 1 (một) con chung tên Nguyễn Thùy L, sinh ngày 10/12/2014.
Công nhận sự tự nguyện của bà S về việc không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông N cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền trực tiếp nuôi con của bà S. Ngược lại bà S và các thành viên trong gia đình không được cản trở ông N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Về án phí: Bà Phan Thị Thúy S phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng mà bà S đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo biên lai thu số: 0008556 ngày 09/10/2023.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).
| Nơi nhận: - VKSND huyện (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS huyện (1); - Các đương sự; - UBND nơi đăng ký kết hôn (1); - Lưu hồ sơ (1), - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sang |