vanban.org

Bản án 37/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 19/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trƣơng Văn L phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trƣơng Văn L 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù đƣợc tính từ ngày 25/02/2020. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trƣơng Văn L phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ H
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2020/HSST
Ngày 19 tháng 6 năm 2020
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà LÊ THỊ DUYÊN
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông TRẦN VĂN THẠCH
2/ Bà DƢƠNG THỊ TƢ
Tòa án nhân dân thị xã H.
HỒ CHÍ DŨNG - Kiểm sát viên.
sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2020/HSST ngày 15 tháng 5 năm 2020
theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 37/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm
2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: TRƯƠNG VĂN L, sinh ngày 06/9/1998 tại tỉnh N.
Long Đ, phƣờng Long Thành B, thị xã H, tỉnh N; nghề nghiệp: làm mƣớn; trình độ
văn hóa: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam,
con ông Trƣơng Châu Thành, sinh năm 1976 và bà Trần Ngọc Lan, sinh năm 1975; vợ
tên Châu Thị Hồng Nhi, sinh năm 2001, có 01 ngƣời con sinh năm 2019; tiền án, tiền
sự: không có.
02/3/2020 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Bà Trần Thị Thúy P, sinh năm 1958 - (vắng mặt)
Địa chỉ: Nhà số 6, ấp Trƣờng T, xã Trƣờng H, thị xã H, tỉnh N.
Ngày 19 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh N, xét xử

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Trƣơng Văn L là đối tƣợng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và nơi cƣ trú ổn định. Do nhiều lần mua đồ nên biết tiệm tạp hóa Hồng Phong chỉ có một mình bà Trần Thị Thúy P, sinh năm 1958, ngụ ấp Trƣờng Thiện, xã Trƣờng Hòa, thị xã H, tỉnh N là chủ tiệm trông coi, để có tiền mua ma túy sử dụng nên Trƣơng Văn L nảy sinh ý định cƣớp tài sản của bà P. Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 25/02/2020, L thuê xe taxi của hãng Sao Đỏ do anh Nguyễn Anh Tuấn làm tài xế chở đến tiệm tạp hóa của bà P. Khi đến gần, L yêu cầu anh Tuấn dừng xe đứng đợi, L xuống xe, một mình đi bộ vào tiệm gặp bà P giả vờ hỏi mua thẻ cào điện thoại. Trong lúc bà P đi vào trong nhà lấy thẻ cào bán thì L đi theo và phát hiện 01 điện thoại di động để trên thùng nƣớc giải khát, 01 bọc nylon bên trong có nhiều thẻ cào điện thoại và tiền. Lợi dụng lúc bà P không chú ý, L dùng tay phải đánh mạnh nhiều cái trúng vào vùng đầu, mặt của bà P, bà P la lên nên L dùng tay bịt miệng, dùng tay phải đánh tiếp thì bà P đƣa tay lên đỡ và giằng co qua lại làm bà P ngã xuống đất. Lúc này L nhanh chóng lấy bọc đựng thẻ cào điện thoại, tiền và điện thoại di động của bà P bỏ chạy ra ngoài lên xe taxi kêu anh Tuấn chạy nhƣng thấy bà P đuổi theo, anh Tuấn không chạy nên L mở cửa xe taxi chạy bộ, nghe bà P truy hô, mọi ngƣời xung quanh đuổi bắt đƣợc L giao Công an xã Trƣờng Hòa xử lý và thu giữ 207 thẻ cào điện thoại các loại mệnh giá từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng, tiền Việt Nam 10.539.500 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Lenovo A6020a40.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 14/KLĐG-TTHS ngày 28/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 207 thẻ cào điện thoại (gồm 81 thẻ Viettel, 71 thẻ Vinaphone, 40 thẻ Mobiphone, 15 thẻ Vietnammobile) trị giá 5.760.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Lenovo A6020a40 trị giá 500.000 đồng, tổng cộng 6.260.000 đồng.

Tại Kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số: 51/2020/TgT ngày 16/3/2020 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh N kết luận: Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể của bà Trần Thị Thúy P do thƣơng tích gây nên hiện tại là 06%. Bà P không yêu cầu xử lý hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản cáo trạng số: 38/CT-VKSHT ngày 15 tháng 5 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh N đã truy tố bị cáo Trƣơng Văn L về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đ diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh N trong phần tranh luận đã giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Trƣơng Văn L về tội “Cướp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trƣơng Văn L mức án từ 03 năm đến 04 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bà P không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng thiệt hại. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo vì không có khả năng thi hành.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận tội, ăn năn hối cải về hành vi của mình, hứa không tái phạm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

Bị cáo Trƣơng Văn L là ngƣời nghiện ma túy, để có tiền mua ma túy sử dụng, biết tiệm bán tạp hóa của bà Trần Thị Thúy P chỉ có một mình bà P trông coi, nên bị cáo đã nảy sinh ý định cƣớp tài sản của bà P, vào khoảng 16 giờ 10 phút ngày 25/02/2020 tại tiệm tạp hóa “Hồng Phong” thuộc ấp Trƣờng Thiện, xã Trƣờng Hòa, thị xã H, tỉnh N, bị cáo vào tiệm tạp hóa Hồng Phong giả vờ mua thẻ cào điện thoại, lợi dụng lúc bà P mất cảnh giác, bị cáo đã dùng tay đánh vào vùng đầu, mặt của bà P, làm cho bà P rơi vào tình thế không thể chống đỡ đƣợc nhằm chiếm đoạt tổng tài sản trị giá 16.799.500 đồng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Trƣơng Văn L có đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh N truy tố bị cáo L phạm tội “Cướp tài sản” là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ, gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của ngƣời khác, làm mất trật tự xã hội tại địa phƣơng, bị cáo ý thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhƣng vì muốn chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác nên dẫn bị cáo vào con đƣờng phạm tội. Vì vậy, cần có mức hình phạt thật nghiêm khắc tƣơng xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, trừng trị, nhằm giáo dục ý thức pháp luật để sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo sẽ trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Khi quyết định hình phạt có xem xét đến tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: Không có.

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Do bị cáo L không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung.

* Về trách nhiệm dân sự:

Bà P đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết, ghi nhận bà P không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng về chi phí điều trị thƣơng tích.

Xử lý vật chứng:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Sony không liên quan đến việc phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia có liên quan đến việc phạm tội, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc.

- 01 bật lửa màu bạc, 01 dao xếp, 01 túi nylon màu trắng đỏ, 01 túi nylon màu đen không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trƣơng Văn L phạm tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 168; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Trƣơng Văn L 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù đƣợc tính từ ngày 25/02/2020.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bật lửa màu bạc, trên nắp có chữ “CENTURY-EAGLE”; 01 dao xếp, lƣỡi bằng kim loại màu trắng dài 9,3cm, cán bằng nhựa màu đỏ dài 12,2cm; 01 túi nylon màu trắng đỏ; 01 túi nylon màu đen.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, mặt trƣớc không có nắp, số Imeil: 356234/04/508711/6, đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo L: 01 (một) điện thoại di động hiệu Sony, màu đen, không có pin, mặt sau máy có số: 35480705-515773-9, đã qua sử dụng.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Trƣơng Văn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo biết đƣợc quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh N để xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bà P vắng mặt thời hạn kháng cáo đƣợc tính từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ