vanban.org

Bản án 37/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 15/06/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt và điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt bị cáo chấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Nhí phạm tội “Trộm cắp tài sản” - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 –CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2026/HSST
Ngày 15 - 6 - 2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Trang Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Kim Thị Sà Mết

2. Ông Nguyễn Đức Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Mảy– Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Toàn – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2026/TLST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2026/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Minh N (tên gọi khác: Q), sinh ngày 09/12/2005 tại tỉnh Cà Mau. Căn cước công dân số 095205004182, cấp ngày 02/12/2022. Nơi thường trú: Ấp P, xã H, tỉnh Cà Mau. Nơi ở hiện nay: Ấp G, xã H, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1985 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1983; anh, chị, em ruột: 01 người; Vợ, con: Không có; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/02/2026 đến nay, (có mặt).

- Bị hại: Bà Trần Thị Ngọc L, sinh năm 1982; nơi cư trú: Ấp G, xã H, tỉnh Cà Mau, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 12 năm 2025, bị cáo Nguyễn Minh N làm thuê sửa nhà (phụ hồ) cho bị hại Trần Thị Ngọc L ngụ Ấp G, xã H, tỉnh Cà Mau. Lợi dụng lúc bà L đi khỏi nhà, bị cáo nhiều lần lén lút vào phòng ngủ của bà L lấy trộm tiền Cụ thể:

Lần thứ nhất: Ngày 06/12/2025, bị cáo N đã lấy trộm số tiền 1.000.000 đồng.

Lần thứ hai: Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 11/12/2025, bị cáo N vào phòng ngủ của bà L tìm thấy chìa khoá để trong hộc tủ đầu giường ngủ, bị cáo N dùng chìa khoá mở két sắt đặt cạnh đầu giường và trộm số tiền 4.500.000 đồng.

Lần thứ ba: Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 13/12/2025, bị cáo N vào phòng ngủ của bà L lấy chìa khoá mở két sắt và trộm số tiền 3.500.000 đồng.

Số tiền lấy trộm được bị cáo N dùng tiêu xài cá nhân và trả nợ hết.

Đến khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 13/12/2025, bà L kiểm tra két sắt thì phát hiện bị mất tiền nên trình báo Công an xã H, tỉnh Cà Mau.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Phạm Văn H là ông ngoại của bị cáo N đã bồi thường số tiền 9.000.000 đồng cho bị hại L. Bị hại đã nhận lại số tiền 9.000.000 đồng và không yêu cầu về trách nhiệm dân sự.

Cáo trạng số 19/CT-VKSCMU-KV ngày 06 tháng 5 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm nhân dân khu vực 7 – Cà Mau giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Minh N như Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bị cáo đã khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên. Căn cứ Điều 38; khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Đối với hành vi trộm cắp số tiền 1.000.000 đồng vào ngày 06/12/2025, do chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đã đề nghị ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Minh N. Công an xã H, tỉnh Cà Mau đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ Trộm cắp tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự” đối với Nguyễn Minh N với số tiền 2.500.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 60/QĐ-XPHC ngày 06/4/2026.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận với Bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt khi nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cà Mau, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện theo quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về tố tụng: Bị hại Trần Thị Ngọc L đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cà Mau không đề nghị hoãn phiên tòa, bị cáo không yêu cầu hoãn phiên tòa. Xét thấy, việc xét xử vắng mặt bị hại không gây trở ngại khi xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh N thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 11/12/2025 và ngày 13/12/2025, bị cáo Nguyễn Minh N đã có hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại Trần Thị Ngọc L tại Ấp G, xã H, tỉnh Cà Mau với tổng số tiền là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng), cụ thể ngày 11/12/2025 số tiền 4.500.000 đồng và ngày 13/12/2025 số tiền 3.500.000 đồng.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Minh N là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cà Mau đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Minh N:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét thấy, bị cáo là người làm thuê sửa chữa nhà cho bị hại nhưng nhiều lần lấy trộm tài sản của bị hại khi bị hại vắng nhà. Từ đó cho thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an ở địa phương và gây hoang mang trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo để bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

. Đối với hành vi trộm cắp số tiền 1.000.000 đồng vào ngày 06/12/2025, Công an xã H, tỉnh Cà Mau đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ Trộm cắp tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự” đối với bị cáo Nguyễn Minh N với số tiền 2.500.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 60/QĐ-XPHC ngày 06/4/2026. Do số tiền bị cáo trộm cắp chưa đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân không truy tố là có căn cứ.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt và điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Minh N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ