vanban.org

Bản án 37/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Nghệ An, tỉnh Nghệ An Tuyên án 10/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn H phạm tội “ Tàng trữ hàng cấm”

Xử phạt: Nguyễn Văn H 12(Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.Gia đình người bị kết án có tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NVH - Tàng trữ hàng cấm - tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn H phạm tội “ Tàng trữ hàng cấm”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2026/HS-ST
Ngày 10/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Như Khôi

Ông Phan Đình Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Nghệ an xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2026/TLST- HS ngày 04 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2026/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1980 tại xã N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm H, xã N, tỉnh Nghệ An;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc:Kinh; Giới tính:Nam; Tôn giáo:không; Quốc tich: Việt Nam; Con ông Nguyễn Muôn N (đã chết) và bà Ngô Thị X (đã chết); Có vợ Nguyễn Thị N1, sinh năm 1982; Con có 02 người, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/01/2026 đến ngày 17/01/2026. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào một ngày khoảng giữa tháng 11 năm 2025, Nguyễn Văn H khai có nhu cầu mua pháo hoa nổ để chơi vào dịp Tết Nguyên đán năm 2026, trên đường đi làm thợ xây thì H gặp Nguyễn Văn S, sinh năm 1987, trú tại xóm H, xã N, tỉnh Nghệ An. H hỏi S: “Năm ni có cối pháo mô không để anh ít cối chơi tết”, S trả lời: “Có anh à nhưng phải đặt trước”, H hỏi: “Bao nhiêu tiền một cối”, S đáp: “Loại pháo 49 quả 1.200.000 đồng/cối, anh mà lấy thì đưa tiền trước em đặt cho”, H đồng ý rồi đưa cho S số tiền 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng) tiền mặt để đặt mua 05 (năm) cối pháo loại 49 (bốn mươi chín) quả và 01 (một) cối pháo loại 09 (chín) quả. Đến khoảng 07 giờ một ngày giữa tháng 12 năm 2025, S mang đến nhà H tại xóm H, xã N, tỉnh Nghệ An một bì xác rắn màu vàng, bên trong có 05 (năm) cối pháo hoa nổ loại 49 (bốn mươi chín) quả và 01 (một) cối pháo hoa nổ loại 09 (chín) quả rồi đi về. H mang số pháo này cất giấu tại phòng khách nhà mình. Đến khoảng 16 giờ 50 phút ngày 12/01/2026, sợ cất giấu pháo trong nhà không an toàn nên H định mang số pháo này ra ngoài để cất giấu thì bị tổ công tác Công an xã V phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đang đi kiểm tra khu vực thấy H có biểu hiện nghi vấn nên phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ hàng cấm (pháo nổ). Qua kiểm tra khu vực nhà ở của H tại xóm H, xã N, tỉnh Nghệ An, tổ công tác thu giữ 01 (một) bì xác rắn màu vàng, bên trong có 05 (năm) khối pháo hoa nổ hình hộp chữ nhật, mỗi khối có kích thước (18x18x10) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu in chữ nước ngoài có ký hiệu OK04-23-01, bên trong được cấu tạo bởi 49 (bốn mươi chín) quả pháo hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn và 01 (một) khối pháo hoa nổ hình hộp chữ nhật, có kích thước (13x13x25) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu in chữ nước ngoài có ký hiệu C1509A, bên trong được cấu tạo bởi 09 (chín) quả pháo hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn.

Ngày 12/01/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại đối với số pháo thu giữ của Nguyễn Văn H. Kết quả cân xác định: Tổng khối lượng của 06 (sáu) khối hình hộp chữ nhật thu giữ của Nguyễn Văn H là 11,441kg (Mười một phẩy bốn trăm bốn mươi mốt kilôgam). Cơ quan điều tra đã lấy 02 (hai) khối pháo hoa nổ hình hộp chữ nhật, có kích thước (18x18x10) cm (ký hiệu M1) và 01 (một) khối pháo hoa nổ hình hộp chữ nhật, có kích thước (13x13x25) cm (ký hiệu M2) gửi đi giám định.

Tại Kết luận giám định số 146/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 16/01/2026 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: "Các mẫu vật (ký hiệu M1, M2) gửi tới giám định đều là pháo; đều thuộc loại pháo nổ".

Bản cáo trạng số 17/CT –VKS - KV 5 ngày 04 tháng 02 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An truy tố Nguyễn Văn H về tội “ Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “ Tàng trữ hàng cấm”

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Miễn hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 03 (ba) khối Pháo hoa nổ còn lại sau giám định có tổng khối lượng là 5,894 kg (Năm phẩy tám trăm chín mươi tư kilôgam).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, không tự bào chữa, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi khởi tố, điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng thu được; phù hợp với lời khai người làm chứng; bản kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ 50 phút ngày 12/01/2026, tại nhà ở của Nguyễn Văn H thuộc xóm H, xã N, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an xã V phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N bắt quả tang Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ 11,441kg (Mười một phẩy bốn trăm bốn mươi mốt kilôgam) pháo nổ với mục đích để sử dụng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “ Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự như cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có bố đẻ Nguyễn Muôn N là thương binh, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự do đó Hội đồng xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo là lao động tự do, điều kiện kinh tế khó khăn, thu nhập thấp nên miễn hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 03 (ba) khối pháo hoa nổ còn lại sau giám định có tổng khối lượng là 5,894 kg (Năm phẩy tám trăm chín mươi tư kilôgam) là vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành, do đó áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Theo lời khai của Nguyễn Văn H thì Nguyễn Văn S, sinh năm 1987; địa chỉ: Xóm H, xã N, tỉnh Nghệ An là người đã bán 06 (sáu) khối Pháo cho H. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành lấy lời khai đối với Nguyễn Văn S và tiến hành đối chất giữa Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn S, nhưng Nguyễn Văn S không thừa nhận đã bán 06 (sáu) khối Pháo cho Nguyễn Văn H. Ngoài lời khai của Nguyễn Văn H ra thì không có chứng cứ, tài liệu nào khác chứng minh được Nguyễn Văn S là người đã bán 06 (sáu) khối Pháo cho Nguyễn Văn H, do đó không đủ căn cứ để kết luận Nguyễn Văn S có hành vi bán pháo nổ cho Nguyễn Văn H nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N không có căn cứ xử lý hình sự đối với Nguyễn Văn S về hành vi “ Buôn bán hàng cấm” là đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, điểm c, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

1. Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn H phạm tội “ Tàng trữ hàng cấm”

2. Xử phạt: Nguyễn Văn H 12(Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 03 (Ba) khối Pháo hoa nổ còn lại sau giám định có tổng khối lượng là 5,894 kg (Năm phẩy tám trăm chín mươi tư kilôgam)

(Vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N. Chi tiết vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng; Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/01/2026 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công tỉnh N và Phòng hậu cần kỹ thuật Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N)

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000(Hai trăm ngàn)đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ