vanban.org

Bản án 37/2026/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 16/04/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/04/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo và chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Puih S. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2026/HS-ST ngày 02/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Gia Lai về phần hình phạt đối với bị cáo Puih S.

Xử phạt bị cáo Puih S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Puih S không phải chịu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Puih S - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo và chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Puih S. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2026/HS-ST ngày 02/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Gia Lai về phần hình phạt đối với bị cáo Puih S.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2026/HS-PT
Ngày 16 – 4 – 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Thanh Gia

Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân

Ông Ung Quang Định

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yến – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2026/TLPT-HS ngày 13 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo Puih S do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2026/HS-ST ngày 02 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Gia Lai.

- Bị cáo có kháng cáo:

Puih Sư, sinh ngày 31/12/2002 tỉnh Gia Lai; số căn cước công dân: 064202013794; nơi cư trú: Làng C, xã I, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Gia Rai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Rơ Mah C, sinh năm 1970 và bà Puih D, sinh năm 1977; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/10/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 11/6/2025, Puih S (có giấy phép lái xe mô tô hạng A1) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu xanh - trắng không gắn biển kiểm soát chở theo sau P lưu thông trên Quốc lộ A theo hướng từ xã I đi xã I, tỉnh Gia Lai. Khi đi đến đoạn đường thuộc làng D, xã I đoạn K+ 300 Quốc lộ A, đã xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe mô tô trên do Puih S điều khiển với xe mô tô biển kiểm soát 93P2-563.06 do anh Nguyễn Tấn K điều khiển, chở theo sau là chị Nguyễn Thị Cẩm V (vợ anh K) đi theo hướng từ xã I đi xã I. Hậu quả, anh K chết trên đường đi cấp cứu, Puih S và chị V bị thương được đưa đi cấp cứu, P bị thương nhẹ, 02 xe mô tô bị hư hỏng nặng.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 589/KLGĐTT-KTHS ngày 23/6/2025, Phòng K1 Công an tỉnh G kết luận nguyên nhân chết của anh K là do chấn thương sọ não. Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 115B/KLTTCT-PYGL ngày 13/10/2025, Trung tâm pháp y tỉnh G kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Puih S tại thời điểm giám định là 65% và tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 164-2025/KLTTCT-TTPY ngày 09/9/2025, Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị V là 48%.

Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn đối với Puih S là 177.0mg/dl. Tại Bản kết luận giám định số 1084/KL-KTHS ngày 04/7/2025, Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận nồng độ cồn của anh K là 175mg/100ml.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 281/KL- HĐĐGTS ngày 20/9/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Gia Lai kết luận tại thời điểm ngày 11/6/2025, xe mô tô biển kiểm soát 93P2-563.06 bị hư hỏng có giá trị là 1.343.333 đồng và xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius không có biển kiểm soát bị hư hỏng có giá trị là 898.333 đồng.

Sau khi xảy ra tai nạn, Puih S và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho gia đình anh K, chị V số tiền 80.000.000 đồng; chị V và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho Puih S số tiền 10.000.000 đồng; bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có yêu cầu nào khác về phần dân sự; chị V và gia đình đã có đơn xin bãi nại, không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã trả lại 02 xe mô tô trên cho các chủ sở hữu hợp pháp.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2026/HS-ST ngày 02/02/2026, Tòa án nhân dân khu vực 9 – Gia Lai đã căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Puih S 03 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 13/02/2026, bị cáo Puih S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Puih S thay đổi yêu cầu kháng cáo, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo và chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Puih S, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo, giảm cho bị cáo 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 11/6/2025 tại Km 113+ 300 Quốc lộ A đoạn qua làng D, xã I, tỉnh Gia Lai đã xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu xanh - trắng không gắn biển kiểm soát do Puih S (có giấy phép lái xe mô tô hạng A1) điều khiển theo hướng từ xã I đi xã I chở theo sau Puih Tham với xe mô tô biển kiểm soát 93P2-563.06 do anh Nguyễn Tấn K điều khiển, chở theo sau là chị Nguyễn Thị Cẩm V (vợ anh K) đi theo hướng ngược lại.

Hậu quả, anh K chết trên đường đi cấp cứu, chị V bị thương với tỷ lệ 48%, Puih S bị thương với tỷ lệ 65%, Puih T bị xây xát nhẹ và 02 xe mô tô bị hư hỏng nặng.

Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do Puih S điều khiển xe mô tô sau khi đã uống rượu bia (hơi thở có nồng độ cồn đo được là 177.0mg/dl), không đội mũ bảo hiểm, không làm chủ tốc độ, thiếu chú ý quan sát, điều khiển xe đi lấn sang làn đường ngược chiều dẫn đến tai nạn.

Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 9 – Gia Lai đã xét xử bị cáo Puih S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định ...” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác nên cần phải xử lý nghiêm nhằm phòng ngừa, giảm thiểu tai nạn giao thông.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Puih S, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại cũng đã có đơn xin bãi nại, không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Trong vụ án này, cá nhân bị cáo cũng bị thương nặng (thương tích 65%) và bị hại anh K cũng có một phần lỗi là điều khiển xe mô tô sau khi đã sử dụng rượu bia (nồng độ cồn của anh K là 175mg/100ml); bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng biên giới, trình độ văn hóa thấp nên nhận thức cũng có phần hạn chế; đồng thời, tại cấp phúc thẩm, chị V và gia đình tiếp tục có đơn xin bãi nại, không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Puih S 03 năm tù là có phần nghiêm khắc; do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Puih S, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt, giảm cho bị cáo một phần hình phạt và đồng thời không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Puih S vì không đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung khi tình trạng vi phạm giao thông do sử dụng rượu bia ngày càng tăng, trở thành một trong những nguyên nhân chính gây tai nạn giao thông.

Do kháng cáo được chấp nhận, Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt nên bị cáo Puih S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo và chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Puih S, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo, giảm cho bị cáo 06 tháng tù là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo và chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Puih S. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2026/HS-ST ngày 02/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Gia Lai về phần hình phạt đối với bị cáo Puih S.

2. Xử phạt bị cáo Puih S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Puih S không phải chịu.

4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ