- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thanh L-Nguyễn Phúc N"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh L
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2026/HNGĐ-ST Ngày: 06/02/2026 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Ngọc Trinh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Mua
2. Bà Nguyễn Thị Sương
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Trăm– Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2-Vĩnh Long.
Ngày 06 tháng 02 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2-Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 260/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 191/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thanh L, sinh năm 1997 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp I, xã C, tỉnh Vĩnh Long
- Bị đơn: anh Nguyễn Phúc N, sinh năm 1995 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp H, xã C, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14/10/2025 nguyên đơn chị Nguyễn Thanh L trình bày:
Về hôn nhân: Qua quen biết chị L và anh N tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2015, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay là Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 09/3/2016. Thời gian đầu vợ chồng chung sống tương đối hạnh phúc được 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn, chị L đã chuyển ra ngoài sống riêng từ tháng 10/2024 và chính thức ly thân từ tháng 02/2025 cho đến nay không về đoàn tụ được.
Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cự cãi với nhau làm mất hạnh phúc gia đình. Hiện nay chị L xác định tình cảm vợ chồng dành cho anh N không còn nữa nên chị L yêu cầu được ly hôn với anh N.
Về con chung: vợ chồng có một người con chung tên Nguyễn Nguyên K, sinh ngày 12/06/2018. Hiện nay cháu K đang sống chung với cha là anh Nguyễn Phúc N, khi ly hôn chị L đồng ý giao con chung là cháu Nguyễn Nguyên K, sinh ngày 12/06/2018 cho anh N tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, chị L đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.725.000 đồng cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 30/12/2025 chị L có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về phần cấp dưỡng nuôi con, chị L không cấp dưỡng nuôi con.
Về phía bị đơn anh Nguyễn Phúc N được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và xét xử nhưng vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi cho Tòa án.
Tại phiên tòa, chị L và anh N vắng mặt.
Tại đơn xin vắng mặt ngày 30/12/2025 chị Nguyễn Thanh L xin vắng mặt, chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: chị L yêu cầu ly hôn với anh N; về con chung: chị L đồng ý giao con chung là cháu Nguyễn Nguyên K, sinh ngày 12/06/2018 cho anh N tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, chị L không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện, lời trình bày của đương sự. Kết luận quan hệ tranh chấp về “ly hôn, tranh chấp nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn cư trú tại xã C, tỉnh Vĩnh Long nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2-Vĩnh Long quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn chị Nguyễn Thanh L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Phúc N được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 11/2006 ngày 09/3/2016 của Ủy Ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thanh L và anh Nguyễn Phúc N là hôn nhân hợp pháp.
Theo lời trình bày của chị L thì sau khi cưới nhau chị L và anh N cũng có thời gian chung sống hạnh phúc nhưng khi xảy ra mâu thuẫn thì không hàn gắn được. Vợ chồng thường xuyên cự cãi nên chị L đã chuyển ra ngoài sống riêng từ tháng 10/2024 và chính thức ly thân từ tháng 02/2025 cho đến nay không về đoàn tụ được. Tại đơn xin ly hôn chị L trình bày hiện chị L không còn tình cảm với anh N nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh N.
Về phía bị đơn anh Nguyễn Phúc N được Tòa án thông báo thụ lý vụ án nhưng không có văn bản trả lời, không tham gia hòa giải và phiên tòa xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tài liệu kèm theo để giải quyết vụ án.
Hội đồng xét xử nhận thấy anh N vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án xem như không có thành ý hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị L nên mối quan hệ hôn nhân của chị L và anh N không thể hàn gắn được. Từ tháng 2/2025 đến nay chị L và anh N sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau, mạnh ai nấy sống vì thế mâu thuẫn của chị L và anh N đã trở nên trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và cũng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị L là có căn cứ, phù hợp Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
Về con chung: chị L trình bày vợ chồng có 01 (một) con chung tên Nguyễn Nguyên K, sinh ngày 12/06/2018. Hiện nay cháu K đang sống chung với anh N nên chị L đồng ý giao con chung Nguyễn Nguyên K cho anh N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh N để làm rõ yêu cầu nuôi con chung của chị L nhưng anh N vắng mặt không rõ lý do nên không thể thu thập được ý kiến của anh N. Tại Bản tự khai ngày 14/10/2025 cháu Nguyễn Nguyên K có nguyện vọng là sau khi cha mẹ ly hôn cháu được tiếp tục sống chung với cha là anh Nguyễn Phúc N, bản khai có xác nhận người giám hộ là anh Nguyễn Phúc N nên xác định anh N có biết và đồng ý việc cháu K có nguyện vọng sống chung với anh. Mặt khác, chị L trình bày hiện cháu K đang sinh sống cùng anh N nên chị L đồng ý giao con chung Nguyễn Nguyên K cho anh N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu K hiện do anh N nuôi dưỡng đã ổn định về cuộc sống và đang trong quá trình phát triển tâm sinh lý nên cần thiết để cho cháu K được ổn định về cuộc sống để tiếp tục phát triển về thể chất lẫn tinh thần thời điểm hiện tại và trong thời gian tới. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung tên Nguyễn Nguyên K cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: ngày 30/12/2025, chị L rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với nội dung cấp dưỡng, chị L không cấp dưỡng nuôi con chung do thu nhập không ổn định. Anh N vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án không có lý do chính đáng xem như đã từ bỏ quyền yêu cầu của mình, Tòa án không thu thập được ý kiến của anh N về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút lại nội dung cấp dưỡng nuôi con của chị L.
Về tài sản chung và nợ chung: chị L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc chị Nguyễn Thanh L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006855 ngày 22 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Chị L đã nộp đủ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm c khoản 1 Điều 217; Điều 218; điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147; Điều 238 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh L
1. Về hôn nhân: chị Nguyễn Thanh L được ly hôn với anh Nguyễn Phúc N.
2. Về con chung: giao con chung tên Nguyễn Nguyên K, sinh ngày 12/6/2018 cho anh Nguyễn Phúc N tiếp tục nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh L đối với phần cấp dưỡng nuôi con chung, chị L không cấp dưỡng nuôi con chung.
4. Về tài sản chung và nợ chung: chị Nguyễn Thanh L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thanh L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006855 ngày 22 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Chị L đã nộp đủ.
6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
7. Về quyền kháng cáo: đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long: 01b; - VKSND KV2-VL: 02b - Phòng THADS KV2-VL: 01b; - UBND xã nơi thực hiện ĐKKH: 01b; - Đương sự: 02b; - Lưu: 04b. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Ngọc T |