- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Hồng H - Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Lê Hồng H. Bà Lê Hồng H được ly hôn với ông Trần Huy T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2026/HNGĐ-ST Ngày 26/3/2026 Về việc ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Mai Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Đức Hiền
Ông Lưu Huy Hà
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2026, tại Phòng xét xử Toà án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 371/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2025 về tranh chấp: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 14/2026/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Hồng H, sinh năm 1984 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Ấp L, xã C, tỉnh Vĩnh Long
Nơi ở hiện nay: 12 đường số C, khu phố D, phường T, Thanh phố H
- Bị đơn: Ông Trần Huy T, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Địa chỉ hộ khẩu thường trú: Tổ G, khu phố G, phường C, tỉnh Đồng Nai
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 20/11/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Hồng H trình bày:
Bà Lê Hồng H và ông Trần Huy T sau thời gian tìm hiểu, có tự nguyện yêu thương nhau và đăng ký kết hôn lần thứ nhất vào ngày 06/01/2005, tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Bình Phước (nay là phường C, tỉnh Đồng Nai). Sau khi kết hôn bà Lê Hồng H và ông Trần Huy T cùng nhau sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 01 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có sự quan tâm lo lắng cho nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019. Nay bà H thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên làm đơn xin ly hôn với ông Trần Huy T.
Quá trình chung sống bà Lê Hồng H và ông Trần Huy T có 02 con chung tên Trần Lê Hồng Y, sinh ngày 12/11/2009 và Trần Lê Hồng A, sinh ngày 12/11/2009. Sau khi ly hôn bà Lê Hồng H có nguyện vọng được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Trần Lê Hồng Y, sinh ngày 12/11/2009 và Trần Lê Hồng A, sinh ngày 12/11/2009, đến khi các con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi. Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Hồng H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa, bị đơn ông Trần Huy T vắng mặt.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng, triệu tập ông Trần Huy T lên làm việc, viết bản tự khai trình bày ý kiến, nguyện vọng của mình để làm có cơ sở giải quyết vụ án, nhưng ông Trần Huy T không có mặt tại Toà án để làm việc nên không có ý kiến trình bày.
Đồng thời, Tòa án đã tiến hành triệu tập ông Trần Huy T tham gia các phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp công khai cứng cứ và hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng ông T không tham gia, không có ý kiến trình bày.
Biên bản xác minh ngày 13/01/2026 tại Công an phường C và Biên bản xác minh ngày 19/01/2026 tại khu phố G, phường C, tỉnh Đồng Nai xác định: Ông Trần Huy T có đăng ký thường trú tại: Tổ G, khu phố G, phường C, tỉnh Đồng Nai, nhưng hiện nay không sinh sống tại địa phương. Về mâu thuẫn giữa ông Trần Huy T và bà Lê Hồng H địa phương không nắm rõ.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến nay, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ và diễn biến tại phiên tòa, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Lê Hồng H. Bà Lê Hồng H được ly hôn với ông Trần Huy T.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Lê Hồng Y, sinh ngày 12/11/2009 và Trần Lê Hồng A, sinh ngày 12/11/2009 cho bà Lê Hồng H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Ông Trần Huy T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn bà Lê Hồng H không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Bà Lê Hồng H phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ ý kiến trình bày và kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Huy T đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Tổ G, khu phố G, phường C, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai.
Ông Trần Huy T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, nguyên đơn bà Lê Hồng H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Hồng H và ông Trần Huy T sau thời gian tìm hiểu, tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn vào ngày 06/01/2005, tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Bình Phước (nay là phường C, tỉnh Đồng Nai), theo đúng quy định pháp luật, nên hôn nhân của bà Lê Hồng H và ông Trần Huy T là hợp pháp, đúng quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Xét thấy, bà Lê Hồng H và ông Trần Huy T kết hôn với nhau nhằm mục đích xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng quá trình chung sống ông, bà bất đồng quan điểm không còn thương yêu nhau, quan tâm, trách nhiệm với nhau, đã ly thân từ năm 2019 đến nay, nay bà Lê Hồng H thấy mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, không muốn hàn gắn gia đình mà yêu cầu ly hôn với ông Trần Huy T để ổn định cuộc sống là phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ vào Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Hồng H, cho bà Lê Hồng H ly hôn với chồng ông Trần Huy T.
Về con chung: Sau khi ly hôn bà Lê Hồng H có nguyện vọng được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Trần Lê Hồng Y, sinh ngày 12/11/2009 và Trần Lê Hồng A, sinh ngày 12/11/2009. Bà H không yêu cầu ông T cấp duỡng nuôi con.
Nhận thấy từ khi bà Lê Hồng H và ông Trần Huy T xảy ra mâu thuẫn, ly thân năm 2019, cháu Hồng A và cháu Hồng Y đều do bà Lê Hồng H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến nay, bà Lê Hồng H có công việc và thu nhập ổn định. Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/02/2026, cháu Trần Lê Hồng A và cháu Trần Lê Hồng Y đều có nguyện vọng được ở với mẹ sau khi ba mẹ ly hôn. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn, xét quyền lợi chính đáng về mọi mặt của con, bà Lê Hồng H nuôi dưỡng là phù hợp hơn ông Trần Huy T, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân gia đình, Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối, chấp nhận yêu cầu của bà Lê Hồng H, giao 02 con chung Trần Lê Hồng Y, sinh ngày 12/11/2009 và Trần Lê Hồng A, sinh ngày 12/11/2009 cho bà Lê Hồng H tiếp tục nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn bà Lê Hồng H không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Lê Hồng H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Lê Hồng H. Bà Lê Hồng H được ly hôn với ông Trần Huy T.
- Về con chung: Giao 02 con chung Trần Lê Hồng Y, sinh ngày 12/11/2009 và Trần Lê Hồng A, sinh ngày 12/11/2009 cho bà Lê Hồng H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Ông Trần Huy T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế việc thăm nom. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng, xin thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu có căn cứ.
- Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn bà Lê Hồng H không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bà Lê Hồng H chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009535 ngày 27/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - THADS tỉnh Đồng Nai; - VKSND khu vực 10 - Đồng Nai; - Các đương sự; - UBND nơi ĐKKH; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lê Đức Hiền Lưu Huy Hà | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Ngọc Mai Phương \\ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Mai Phương |