- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Xuân C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Hoàng Xuân C:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 228 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2026/HNGĐ-ST Ngày 15/6/2026 Về việc Tranh chấp xác định quan hệ cha con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hiệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Dương Thị Hà.
2. Ông Bàn Tiến Quỳnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hợi - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lý Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 20/2026/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 01 năm 2026, về việc Tranh chấp xác định quan hệ cha con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2026/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2026/QĐST-HNGĐ ngày 29/5/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Hoàng Xuân C, sinh năm 1994. Địa chỉ: thôn L, xã T, tỉnh Lạng Sơn. Căn cước công dân số 020094010534, ngày cấp 28/6/2023, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C2. Vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 2001. Địa chỉ: thôn L, xã T, tỉnh Lạng Sơn. Căn cước công dân số 004301004565, ngày cấp 15/8/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C2. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nông Văn T, sinh năm 2001. Địa chỉ: Xóm C, xã H, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Hoàng Xuân C trình bày: Anh và chị Lê Thị N có quen biết nhau vào năm 2024, có quan hệ tình cảm, trong thời gian đó chị Lê Thị N chưa ly hôn với anh Nông Văn T. Quá trình phát sinh tình cảm, anh Hoàng Xuân C và chị Lê Thị N có một người con chung dự kiến tên là Hoàng Minh C1, sinh ngày 11/4/2025 (chưa được đăng ký khai sinh). Đến ngày 26/3/2025 chị Lê Thị N và anh Nông Văn T ly hôn với nhau theo bản án số 02/2025/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng; tại phần con chung thời điểm đó chị Lê Thị N đang mang thai con Hoàng Minh C1 nên không được giải quyết trong bản án đó. Anh Hoàng Xuân C đã đi làm xét nghiệm ADN giữa anh với con Hoàng Minh C1, tại phiếu kết quả xét nghiệm AND ngày 02/12/2025 của công ty TNHH C3 kết luận: “HOÀNG XUÂN CHUYỀN CÓ quan hệ huyết thống cha – con với HOÀNG MINH C1, độ tin cậy trên 99,999999%”. Nay anh Hoàng Xuân C yêu cầu Tòa án xác định anh là cha đẻ của con dự kiến tên là Hoàng Minh C1 và yêu cầu Toà án xác định anh Nông Văn T không phải là cha đẻ của cháu dự kiến tên là Hoàng Minh C1.
Bị đơn chị Lê Thị N trình bày tại bản tự khai như sau: Vào khoảng cuối năm 2022, chị Lê Thị N kết hôn với anh Nông Văn T. Sau hai năm kết hôn thì đến tháng 7/2024 thì sống ly thân. Trong khoảng thời gian sống ly thân chị Lê Thị N quen biết anh Hoàng Xuân C và phát sinh tình cảm. Khi chưa ly hôn với anh Nông Văn T thì chị Lê Thị N có con với anh Hoàng Xuân C dự kiến tên là Hoàng Minh C1, sinh ngày 11/4/2025 (cháu chưa được đăng ký khai sinh). Ngày 26/3/2025 chị Lê Thị N và anh Nông Văn T ly hôn với nhau theo bản án số 02/2025/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng. Để đảm bảo quyền lợi cho con, anh Hoàng Xuân C và con Hoàng Minh C1 đã đi xét nghiệm ADN và có kết luận là có quan hệ huyết thống cha con. Nay chị đồng ý với yêu cầu của anh Hoàng Xuân C về yêu cầu Tòa án xác định anh Hoàng Xuân C là cha đẻ của con Hoàng Minh C1.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nông Văn T vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã tiến hành tống đạt văn bản và niêm yết văn bản theo đúng quy định pháp luật.
Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lạng Sơn đã ủy thác cho Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cao Bằng để thu thập tài liệu chứng cứ và kết quả cho thấy: Đại diện gia đình anh Nông Văn T cho biết năm 2025 giữa anh Nông Văn T và chị Lê Thị N đã ly hôn. Anh Nông Văn T sinh sống tại địa phương, còn chị Lê Thị N về bên ngoại tại Lạng Sơn sinh sống. Hiện nay anh Nông Văn T đi làm ăn, không thường xuyên có mặt tại địa phương. Các giấy triệu tập, thông báo của Tòa án, gia đình đã nhận được và cam kết thông báo cho anh Nông Văn T được biết về thời gian, địa điểm làm việc. Đại diện chính quyền địa phương cũng cho biết anh Nông Văn T đi làm ăn xa, thi thoảng có mặt tại địa phương và quá trình sinh sống tại địa phương không có phản ánh tiêu cực gì đối với anh Nông Văn T.
Tại công văn số: CV.1305.NOVAGEN/2026 ngày 13/5/2026 của Công ty TNHH C3 cho biết: Ngày 30/11/2025, ông Hoàng Xuân C yêu cầu công ty làm thủ tục xét nghiệm ADN cha – con giữa ông Hoàng Xuân C, sinh ngày 28/7/1994 và cháu Hoàng Minh C1, sinh ngày 11/4/2025. Công ty thu mẫu trực tiếp, kiểm tra giấy tờ tùy thân, chụp hình chân dung, tiến hành xét nghiệm ADN theo đơn yêu cầu xét nghiệm ADN ngày 30/11/2025 của ông Hoàng Xuân C và ban hành kết quả xét nghiệm ADN số 9386H/2025 ngày 02/12/2025 với nội dung kết luận: “HOÀNG XUÂN CHUYỀN CÓ quan hệ huyết thống cha – con với HOÀNG MINH C1, độ tin cậy trên 99,999999%”.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử Thẩm phán đã xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, tiến hành tố tụng thu thập tài liệu chứng cứ và tống đạt các văn bản, quyết định đúng trình tự thủ tục tố tụng, đã thông báo và giải thích quyền được trợ giúp pháp lý cho các đương sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ nội dung có liên quan. Còn người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng. Quá trình tiến hành tố tụng tại phiên tòa của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của anh Hoàng Xuân C. Xác định anh Nông Văn T không phải là cha đẻ của cháu dự kiến tên là Hoàng Minh C1, sinh ngày 11/4/2025. Xác định anh Hoàng Xuân C là cha đẻ của cháu Hoàng Minh C1, sinh ngày 11/4/2025 (Theo giấy chứng sinh ngày 11/4/2025 của Trung tâm Y tế huyện B, tỉnh Lạng Sơn). Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký khai sinh cho con theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
Về án phí, lệ phí: Anh Hoàng Xuân C được miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án Tranh chấp xác định quan hệ cha, con theo quy định tại khoản 2 Điều 88; khoản 1 Điều 89; khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình. Bị đơn cư trú tại thôn L, xã T, tỉnh Lạng Sơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lạng Sơn theo quy định tại khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định pháp luật và tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nông Văn T đều vắng mặt không lý do; còn anh Hoàng Xuân C, chị Lê Thị N có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ đúng quy định pháp luật.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: anh Hoàng Xuân C và chị Lê Thị N quen biết và phát sinh tình cảm với nhau từ năm 2024, thời điểm này chị Lê Thị N và anh Nông Văn T là vợ chồng hợp pháp nhưng do vợ chồng mâu thuẫn nên chị Lê Thị N và anh Nông Văn T đã sống ly thân nhưng chưa làm thủ tục ly hôn. Ngày 26/3/2025 chị Lê Thị N và anh Nông Văn T ly hôn với nhau theo bản án số 02/2025/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng; tại phần con chung, do chị Lê Thị N đang mang thai cháu Hoàng Minh C1 nên không được giải quyết trong bản án đó. Nay anh Hoàng Xuân C và chị Lê Thị N đã đi xét nghiệm ADN giữa anh Hoàng Xuân C và cháu Hoàng Minh C1. Tại phiếu kết quả xét nghiệm AND ngày 02/12/2025 của công ty TNHH C3 kết luận: “HOÀNG XUÂN CHUYỀN CÓ quan hệ huyết thống cha – con với HOÀNG MINH C1, độ tin cậy trên 99,999999%”. Như vậy có căn cứ xác định anh Nông Văn T không phải là cha đẻ của cháu dự tiến tên là Hoàng Minh C1. Cha đẻ của cháu Hoàng Minh C1 là anh Hoàng Xuân C. Do đó, yêu cầu của anh Hoàng Xuân C là có căn cứ theo khoản 2 Điều 88, khoản 1 Điều 89 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần được chấp nhận.
Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn là người yêu cầu giải quyết tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên nên thuộc trường hợp được miễn án phí sơ thẩm theo điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo Quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 ; Điều 238; 271; Điều 273 ; khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 88; khoản 1 Điều 89; khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của ;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Hoàng Xuân C:
1.1. Xác định anh Nông Văn T không phải là cha đẻ của cháu dự kiến tên là Hoàng Minh C1, sinh ngày 11/4/2025 (theo giấy chứng sinh ngày 11/4/2025 của Trung tâm Y tế huyện B, tỉnh Lạng Sơn cũ).
1.2. Xác định anh Hoàng Xuân C là cha đẻ của cháu dự kiến tên là Hoàng Minh C1, sinh ngày 11/4/2025 (theo giấy chứng sinh ngày 11/4/2025 của Trung tâm Y tế huyện B, tỉnh Lạng Sơn cũ).
1.3. Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký khai sinh cho con theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
2. Về án phí: Nguyên đơn anh Hoàng Xuân C được miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Hoàng Xuân C, bị đơn chị Lê Thị N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nông Văn T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND khu vực 3-Lạng Sơn; - Phòng THADS khu vực 3-Lạng Sơn; - UBND xã Tân Tri, tỉnh Lạng Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SỞ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Thị Hiệt |