- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn THị Q"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2026/DS-ST Ngày: 24/4/2026. V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Tình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Ngọc.
2. Bà Lê Thị Thận.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Phương Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 210/2025/TLST-DS, ngày 24 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST-DS, ngày 23/3/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thị Q, sinh năm 1971. CCCD: xxxxxxxxxxxx. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)
2. Bị đơn: Anh Đỗ Minh L, sinh năm 1994. CCCD: xxxxxxxxxxxx. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/9/2025, đơn sửa đổi khởi kiện ngày 03/02/2026 lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q trình bày:
Do quen biết nên ngày 26/6/2024 bà cho anh L vay số tiền 37.000.000 đồng, thỏa thuận cấn trừ tiền bán mủ cho đến khi hết trong năm 2024. Do không thực hiện đúng hẹn nên ngày 02/5/2025 anh L viết giấy hẹn trả số tiền còn lại đến ngày 21/8/2025 và kèm theo tiền lãi 03 tháng. Ngày 30/7/2025 anh L trả được 4.000.000 đồng tiền gốc, số tiền còn lại mặc dù đã nhiều lần yêu cầu trả nhưng anh L không thực hiện. Vì vậy, bà khởi kiện yêu cầu trả số tiền gốc còn lại 33.000.000 đồng, xin rút yêu tính lãi suất số tiền 7.425.000 đồng. Ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa trình bày: Bà giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xác định số tiền gốc đã trả được là 4.000.000 đồng trong ngày 30/7/2025, việc trả không làm giấy tờ. Bà thừa nhận anh L đã giao được một vài đợt mủ cao su cho bà để cấn trừ vào tiền vay, khi giao mủ đến thì bà viết phiếu cho anh L để cùng nhau đối chiếu sau này, nhưng đến cuối năm anh L không chịu đưa ra đối chiếu giữa hai bên nên hiện nay chưa biết cụ thể số tiền mủ đã cấn trừ. Vì vậy, bà vẫn yêu cầu anh L trả số tiền vay còn lại. Trường hợp sau này trong quá trình thi hành án phía anh L không đồng ý thì có thể tự đối chiếu số liệu giữa hai bên.
Bị đơn anh Đỗ Minh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia các thủ tục tố tụng giải quyết vụ án nhưng không gửi ý kiến cho Tòa án và không tham gia phiên tòa sơ thẩm.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Đồng Nai phát biểu ý kiến: Về tố tụng Tòa án thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền, đảm bảo thủ tục tố tụng; Về nội dung, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc trả số tiền vay còn lại 33.000.000 đồng, buộc bị đơn chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, căn cứ khởi kiện là giấy có nội dung mượn tiền và hẹn trả.
Căn cứ tài liệu do nguyên đơn cung cấp thể hiện ngày 26/6/2024 bị đơn anh Đỗ Minh L vay nguyên đơn bà Q (ghi trong giấy nhầm là H) số tiền là 37.000.000 đồng, thỏa thuận cấn trừ tiền bán mủ cho đến khi hết trong năm 2024. Ngày 02/5/2025 anh L hẹn trả số tiền vay nêu trên cùng với tiền lãi 03 tháng, thời hạn trả là đến ngày 21/8/2025. Việc thỏa thuận có viết giấy và anh L ký nhận.
Phía nguyên đơn cho rằng ngày 30/7/2025 anh L trả được 4.000.000 đồng tiền gốc, từ đó đến nay không trả thêm. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đỗ Minh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia các thủ tục tố tụng giải quyết vụ án nhưng không gửi ý kiến cho Tòa án và không tham gia phiên tòa sơ thẩm. Ngoài ra, Tòa án cũng trực tiếp đến nơi cư trú để ghi lời khai nhưng không thể thực hiện được. Vì vậy, xác định bị đơn tự từ bỏ quyền chứng minh đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn.
Buộc anh Đỗ Minh L phải trả cho bà Nguyễn Thị Q số tiền vay còn lại là 33.000.000 đồng (ba mươi ba triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
2. Về án phí: Buộc anh Đỗ Minh L phải chịu 1.650.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Thi hành án dân sự tỉnh Đ hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Q số tiền 1.010.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004880 ngày 22/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
Đương có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND Khu vực 12; - THADS tỉnh Đồng Nai; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ - VP - KT. (Số lượng: 10 bản ) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Văn Tình |