vanban.org

Bản án 37/2025/KDTM-PT — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 11/09/2025 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/09/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH Jinhong Vina.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 02/2025/KDTM-ST ngày 17-6-2025 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (nay là Tòa án Khu vực 3, tỉnh Đồng Nai). Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Kiwon Tools (nay là Công ty TNHH Seonjin Vina) đối với Công ty TNHH Jinhong Vina về việc “Tranh chấp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp HĐMB tài sản giữa nguyên đơn Công ty TNHH T- Công ty TNHH V"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH Jinhong Vina.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 24 Luật Thương mại; Điều 306 Luật Thương mại
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/KDTM-PT
Ngày:11-9-2025
V/v “Tranh chấp mua bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhung

Các Thẩm phán: Ông Vũ Hồng Luyến

Bà Lê Thị Ký

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Minh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2025/TLPT- KDTM ngày 22 tháng 8 năm 2025 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa”.

Do Bản án sơ thẩm số: 02/2025/KDTM-ST ngày 17-6-2025 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 38/2025/QĐ-PT ngày 26 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Công ty TNHH Kiwon Tools (nay là Công ty TNHH Seonjin Vina)

Trụ sở tại: Lô A, Khu công nghiệp Đại Đồng – Hoàn Sơn, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (nay xã Đại Đồng, tỉnh Bắc Ninh).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Việt Danh, sinh năm 1991; bà Đỗ Thị Lanh, sinh năm 1992; bà Trần Thị Cẩm Hằng, sinh năm 1997; cùng địa chỉ liên hệ: Tầng trệt, số 84, đường số 14, Nhà ở Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Hiệp Bình, Thành phố Hồ Chí Minh). Bà Hằng có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Võ Thị Hướng, sinh năm 1995 – Luật sư Công ty Luật TNHH Nhất Tín LNT thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: Tầng trệt, số 84, đường số 14, Nhà ở Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Hiệp Bình, Thành phố Hồ Chí Minh). Có mặt

* Bị đơn: Công ty TNHH Jinhong Vina.

Trụ sở tại: Nhà xưởng B, đường số 6, Khu công nghiệp Giang Điền, xã Giang Điền, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Phạm Trần Bích Hồng; Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc; địa chỉ liên lạc: Số 93A, ấp Tân Thịnh, xã Đồi 61, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (xã Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Văn Ngọc, sinh năm 1989; địa chỉ liên hệ: số 5, khu phố 4, phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (phường Trấn Biên tỉnh Đồng Nai). Có mặt

Người kháng cáo: Công ty TNHH Jinhong Vina.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn – bà Trần Thị Cẩm Hằng, trình bày:

Vào năm 2018, Công ty TNHH Wiwon Tools (nay là Công ty TNHH Seonjin Vina) và Công ty TNHH Jinhong Vina có thoả thuận về việc mua bán hàng hóa với nhau, không lập thành văn bản. Theo đó, Công ty Kiwon Tool sẽ cung cấp hàng hoá theo nhu cầu của Công ty Jinhong Vina. Quy trình giao hàng được thực hiện như sau: Công ty Kiwon Tool sẽ xuất Phiếu xuất kho (gồm các thông tin: Mã hàng, số lượng, quy cách, đơn vị tính, đơn giá), khi nhận hàng thì đại diện Công ty Jinhong Vina sẽ ký nhận vào bên “Người nhận hàng”. Cuối tháng, công ty Kiwon Tool sẽ xuất hoá đơn giá trị gia tăng. Công ty Jinhong Vina có nghĩa vụ thanh toán theo từng tháng mua hàng hoá vào ngày cuối tháng.

Trong thời gian từ tháng 5/2018 đến tháng 02/2019, Công ty Kiwon Tools đã giao hàng và xuất hoá đơn giá trị gia tăng cho Công ty Jinhong Vina tổng cộng 09 lần với tổng số tiền là 787.363.170 đồng. Công ty Jinhong mới thanh toán số tiền hàng là 228.271.822đ. Còn nợ lại số tiền 559.091.348 đồng theo Thư xác nhận công nợ ngày 17/02/2024 và chính Công ty Jinhong xác nhận ngày 11/03/2024. Do nhiều lần yêu cầu thanh toán không thành nên Công ty Kiwon Tool đã khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc Công ty Jinhong Vina có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Kiwon Tools số tiền 559.091.348đ, không yêu cầu tính lãi suất chậm thanh toán. Ngoài ra, nguyên đơn không còn yêu cầu khởi kiện nào khác.

*Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn – ông Hồ Văn Ngọc, trình bày:

Bị đơn thừa nhận giữa hai Công ty có việc thoả thuận mua bán hàng hoá với nhau nhưng không ký kết hợp đồng. Giao dịch phát sinh giữa hai bên dựa trên sơ sở đặt hàng từ phía Công ty Jinhong Vina gửi qua cho Công ty Kiwon Tools từ tháng 8/2018. Tuy nhiên, từ tháng 9/2018, Công ty Jinhong Vina không còn nhu cầu mua hàng nên chưa phát hành chính thức đơn đặt hàng có xác nhận đúng thẩm quyền nào gửi đến Công ty Kiwon Tools. Thực tế, trong thời gian từ tháng 8/2018 đến tháng 02/2019, Công ty Kiwon Tools liên tục gửi hàng đến Công ty Jinhong Vina.

Ngày 10/8/2019, Công ty Jinhong Vina đã gửi Công văn yêu cầu giải trình để làm rõ lý do giao hàng khi chưa có xác nhận chính thức từ Công ty Jinhong Vina và đã nhận được hồi đáp theo Công văn giải trình đề ngày 28/8/2019 nhưng chưa rõ về vấn đề lý do giao hàng đến Công ty Jinhong Vina khi chưa có xác nhận đơn hàng chính thức. Do trước đây, hai bên có giao dịch mua bán hàng hoá nên nhân viên kho, nhân viên sản xuất đã không biết về việc chưa có xác nhận đơn hàng mà vẫn tiếp tục nhận hàng và đưa một số vào sản xuất. Ngày 24/9/2019, Công ty Jinhong Vina đã gửi văn bản yêu cầu Công ty Kiwon Tools nhận lại hàng hoá đã giao còn tồn kho và cam kết thanh toán số hàng đã sử dụng do nhầm lẫn.

Theo các hoá đơn giá trị gia tăng mà Công ty Kiwon Tools đã xuất qua thì tổng số tiền hàng là 559.091.348 đồng và Công ty Jinhong Vina đã có thư xác nhận công nợ này ngày 17/02/2024 (chưa trừ vào số lượng hàng hoá chưa sử dụng, trị giá 196.756.780đ). Nay Công ty Jinhong chỉ đồng ý thanh toán số tiền mua hàng hoá còn nợ là 362.334.568 đồng (559.091.348đ - 196.756.780đ). Ngoài ra, bị đơn không có yêu cầu phản tố trong vụ án.

Tại Bản án số: 02/2025/KDTM-ST ngày 17-3-2025 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã căn cứ các Điều 24, Điều 50, Điều 55, Điều 306 và Điều 317 của Luật Thương mại; các Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Kiwon Tools (nay là Công ty TNHH Seonjin Vina) đối với Công ty TNHH Jinhong Vina về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá”.

Buộc Công ty TNHH Jinhong Vina có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH Kiwon Tools (nay là Công ty TNHH Seonjin Vina) số tiền là 559.091.348 đồng (Năm trăm năm mươi chín triệu không trăm chín mươi mốt nghìn ba trăm bốn mươi tám đồng).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chậm nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 24/6/2025, bị đơn Công ty TNHH Jinhong Vina kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Việc mua bán hàng hóa được các bên thừa nhận, bị đơn có thư xác nhận nợ. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa phúc thẩm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đúng thành phần, đảm bảo vô tư khách quan, trình tự phiên tòa được Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Về đề xuất đường lối giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án là đúng quy định, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Xét kháng cáo của bị đơn nhận thấy:

Xét về việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá: Các đương sự đều thừa nhận việc mua bán hàng hoá giữa hai Công ty không lập hợp đồng mà thông qua hình thức “bán hàng qua điện thoại” thỏa thuận này phù hợp với Điều 24 của Luật Thương mại 2005. Về thời gian thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá, theo Công ty Kiwon là từ tháng 5/2018 đến tháng 02/2019, còn Công ty Jinhong thì cho rằng hai bên mua bán hàng hóa là từ tháng 5/2018 đến tháng 8/2018. Nhận thấy, từ tháng 9/2018 đến tháng 02/2019 thông qua 23 phiếu xuất kho, thể hiện có chữ ký bên người lập phiếu (đại diện Công ty Kiwon) – người nhận hàng (đại diện Công ty Jinhong) thể hiện Công ty Jinhong vẫn tiếp tục nhận 23 lần giao hàng. Việc bị đơn khai từ tháng 8/2018, Công ty Jinhong không còn nhu cầu đặt hàng từ Công ty Kiwon, là không có căn cứ.

Công ty Kiwon đã cung cấp phiếu xuất kho có thể hiện các thông tin về người mua hàng, lý do, kho xuất, mã hàng, tên, nhãn hiệu, quy cách, phẩm chất vật tư, dụng cụ sản phẩm, hàng hoá, đơn vị tính, số lượng, đơn giá, thành tiền và thông tin về người lập phiếu, người nhận hàng. Các phiếu xuất kho thể hiện người nhận hàng là ông Kim Sung Won, bà Nguyễn Thị Quỳnh Thư, bà Phạm Trần Bích Hồng, bà Ngọc Bạch đều là những người lao động trong Công ty và cả chính người đại diện theo pháp luật của Công ty. Công ty Jinhong trình bày, số hàng Công ty Kiwon giao, phần đã sử dụng (đưa vào sản xuất), phần còn tồn và yêu cầu nhận lại được liệt kê theo danh sách (BL 158). Điều này chứng tỏ, Công ty Jinhong đã nhận đủ hàng theo 30 phiếu xuất kho mà Công ty Kiwon đã cung cấp cho Toà án.

Xét về việc thanh toán số tiền mua bán hàng hóa: Theo 09 hoá đơn giá trị gia tăng thể hiện việc mua bán hợp pháp giữa hai Công ty, với tổng số tiền hàng là 787.363.170 đồng thì Công ty Jinhong đã thanh toán bằng hình thức chuyển khoản tổng số tiền 228.271.822 đồng (thực hiện 11 lần chuyển khoản từ tháng 7/2018 đến tháng 4 năm 2021). Ngoài ra, ngày 17/02/2024, Công ty Kiwon có Thư xác nhận công nợ và được Công ty Jinhong xác nhận ngày 11/03/2024, với số tiền nợ là 559.091.348 đồng. Như vậy, Thư xác nhận nợ phù hợp với các phiếu xuất kho, hoá đơn giá trị gia tăng và số tiền đã thanh toán, nênTòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn Công ty Jinhong phải thanh toán cho Công ty TNHH Kiwon Tools (nay là Công ty TNHH Seonjin Vina) số tiền là 559.091.348 đồng là có căn cứ. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về mức lãi suất chậm thi hành án là 10%/năm, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 nên Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận mức lãi suất chậm thi hành án là đúng quy định.

Về án phí sơ thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm xác định án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đúng.

Về án phí phúc thẩm: Kháng của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm số tiền là 2.000.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH Jinhong Vina.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 02/2025/KDTM-ST ngày 17-6-2025 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (nay là Tòa án Khu vực 3, tỉnh Đồng Nai).

Căn cứ các Điều 24, Điều 50, Điều 55, Điều 306 và Điều 317 của Luật Thương mại; các Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Kiwon Tools (nay là Công ty TNHH Seonjin Vina) đối với Công ty TNHH Jinhong Vina về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá”.

Buộc Công ty TNHH Jinhong Vina có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH Kiwon Tools (nay là Công ty TNHH Seonjin Vina) số tiền là 559.091.348 đồng (Năm trăm năm mươi chín triệu không trăm chín mươi mốt nghìn ba trăm bốn mươi tám đồng).

2. Về án phí: Công ty TNHH Jinhong Vina phải chịu 26.364.000 đồng (Hai mươi sáu triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn trả cho Công ty TNHH Kiwon Tools (nay là Công ty TNHH Seonjin Vina) số tiền 19.212.152 đồng (Mười chín triệu hai trăm mười hai nghìn một trăm năm mươi hai đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0016940 ngày 07/10/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Công ty TNHH Jinhong Vina phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm số tiền là 2.000.000 đồng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0001501 ngày 08/7/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom.

3. Kể từ ngày Công ty TNHH Kiwon Tools (nay là Công ty TNHH Seonjin Vina) có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền trên, nếu Công ty TNHH Jinhong Vina chậm thi hành án thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ