- Tranh chấp gì? án hình sự — "Y Sơm Ayun + ĐB - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Y Sơm A và bị cáo Y Glen A2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – ĐẮKLẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2025/HSST Ngày: 26/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – ĐẮKLẮK
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Thắng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hà và ông Phạm Văn Thanh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk
Đại diện VKSND khu vực 3 tham gia phiên Tòa: Bà Trần Thị Mỹ C - Kiểm sát viên
Ngày 26/12/2025 tại phòng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý 31/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Y Sơm A; Sinh năm: 1996, tại tỉnh Đắk Lắk;
Nơi ĐKHKTT: buôn G, xã C, tỉnh Đắk Lắk;
Chỗ ở trước khi phạm tội: buôn Đ, xã E, tỉnh Đắk Lắk;
Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Ê đê; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Y Mor K, sinh năm 1975 và con bà H Punh A1, sinh năm: 1975, hiện ông bà đang sinh sống tại: buôn G, xã C, tỉnh Đắk Lắk; bị cáo có vợ H Nan Ayŭn, sinh năm: 1997 và bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2021, hiện vợ và các đang sinh sống tại: buôn G, xã C, tỉnh Đắk Lắk; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 08/05/2025 đến nay. Hiện bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Y Glen A2; Sinh năm: 1990, tại tỉnh Đắk Lắk;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: buôn C, xã C, tỉnh Đắk Lắk;
Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Ê đê; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Y Tam N (đã chết) và con bà H MLơng Ayŭn, sinh năm: 1970, hiện bà đang sinh sống tại: buôn G, xã C, tỉnh Đắk Lắk; bị cáo có vợ H Liông N1, sinh năm: 1990 và bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2014, hiện vợ và các đang sinh sống tại: buôn C, xã C, tỉnh Đắk Lắk; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
Ngày 2009 bị Tòa án nhân dân huyện Cư Mgar, tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Huỷ hoại tài sản”, bị cáo chấp hành án tại trại giam Đ – Bộ C1. Ngày 08/03/2011, chấp hành xong án phạt tù và chấp hành xong tiền án phí. (Đã xóa án tích)
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 12/09/2025 đến nay. Hiện bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa bị cáo: Ông Lê Công T – Luật sư Văn phòng L – thuộc đoàn luật sư tỉnh Đ bào chữa cho bị cáo Y Sơm A3 và Y Glen A4 (có mặt)
- Những người bị hại:
+ Ông Nguyễn Văn B; sinh năm: 1964 (có mặt)
Trú tại: Thôn A, xã C, tỉnh Đắk Lắk
+ Anh Lê Văn V; sinh năm: 1988 (có mặt)
Trú tại: Thôn A, xã C, tỉnh Đắk Lắk
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Y Yuôn K1; sinh năm: 1995 (có mặt)
Trú tại: buôn G, xã C, tỉnh Đắk Lắk
+ Anh Y Song A5; sinh năm: 1995 (có mặt)
Trú tại: buôn G, xã C, tỉnh Đắk Lắk
+ Anh Y Sin N2; sinh năm: 1996(có mặt)
Trú tại: buôn G, xã C, tỉnh Đắk Lắk
+ Anh Trần Kiên G; sinh năm: 1989 (có mặt)
Trú tại: Thôn A, xã C, tỉnh Đắk Lắk
+ Anh Phạm Minh H1; sinh năm: 2001 (có mặt)
Trú tại: Thôn A, xã C, tỉnh Đắk Lắk
+ Anh Nguyễn Ngọc Thành N3; sinh năm: 1992 (vắng mặt)
Trú tại: Thôn A, xã C, tỉnh Đắk Lắk
- Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Quang T1; sinh năm: 1984 (vắng mặt)
Trú tại: Thôn A, xã C, tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thực hiện theo Kế hoạch ngày 18/10/2024 của Công an xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là Công an xã C, tỉnh Đắk Lắk), khoảng 22 giờ ngày 08/11/2024, tổ lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở thôn A, xã C, tỉnh Đắk Lắk gồm có: Ông Nguyễn Văn B (Công an viên - tổ trưởng), anh Lê Văn V (tổ phó), anh Trần Kiên G (tổ viên) và anh Phạm Minh H1 (bí thư đoàn thôn A), tổ chức tuần tra trên địa bàn thôn A, xã C, tỉnh Đắk Lắk với mục đích bảo vệ vụ mùa, tuyên truyền nhắc nhở người dân chấp hành nghiêm Luật giao thông đường bộ. Trong quá trình tuần tra, tổ công tác phát hiện Y G1 Ayŭn điều khiển xe mô tô biển số: 47B2-205.63 tham gia giao thông nhưng không đội mũ bảo hiểm nên tổ công tác đã dừng xe, ông B nhắc nhở: “Anh đi đâu về mà không đội mũ bảo hiểm, chân không mang dép? đề nghị anh chấp hành nghiêm Luật giao thông đường bộ” thì Y G1 dùng tay túm cổ áo ông B và nói: “Tôi đi nhậu về, bỏ quên dép ở buôn Hô”, ông B nói tiếp: “Anh đi chơi thì về sớm, dạo này nhiều người dân ở đây bị mất trộm tài sản”, Y G1 trả lời: “Tôi đi nhậu ở buôn H về chứ tôi chả trộm cắp tài sản gì của ai cả”. Lúc này, Y G1 định bật chìa khóa xe nổ máy bỏ đi thì ông B giữ chìa khóa xe lại, đề nghị Y Glen đội mũ bảo hiểm để tham gia giao thông đảm bảo an toàn cho chính Y G1 và cả cho người đi đường nhưng Y G1 không đồng ý, dùng tay túm cổ áo ông B thì ông B dùng tay chỉ vào Lô gô Công an viên trên cánh tay áo trái của ông B và nói: “Chúng tôi là lực lượng an ninh thôn A đi tuần tra, đề nghị anh hợp tác và chấp hành Luật giao thông đường bộ”. Nghe vậy thì Y G1 bỏ chạy bộ vào trong quán B1, thuộc thôn A, xã C (cách đó khoảng hơn 50m). Khi vào quán B2, Y G1 gặp một số người bạn đang chơi bida, gồm: Y Song A5, Y Yuôm K2, Y Sơm A, Y Sin N2 thì Y G1 nói to bằng tiếng dân tộc Ê Đê rằng: “Tụi mày ơi. Tụi mày ơi. Có nhiều người Kinh chặn đánh tao, đông lắm nhưng không biết là ai”. Vừa nói xong thì Y G1 quay ra đi trước, đến Y S cầm 01 cây cơ bida, đến Y Y, Y S1 và đến Y S2 cầm 01 cây cơ bida theo sau Y G1 đi về hướng ngã ba đường nhánh thôn A giao nhau với đường Q. Trên đường đi, Y G1 nói với Y S: “Tao không có làm gì mấy người này mà mấy người này đánh tao. Mày lấy giúp tao chiếc xe”, Y S nói: “Hù dọa người ta để lấy xe thôi, không được đánh người ta đâu đấy” thì Y Y nói: “Đúng rồi, chỉ dọa lấy lại xe thôi, chứ tôi không muốn đánh nhau”. Lúc này, Y Y đòi lấy cơ bida trên tay Y S nhưng Y S giằng lại cây cơ bi da thì Y Y nhặt lấy cành cây củi bên đường trước cổng quán bida, rồi cả năm người cùng đi về hướng ngã ba đường nhánh thôn A giao nhau với đường Q đến chỗ ông B, anh V, anh G, anh H1 đang đứng. Thấy nhóm Y G1 xông đến, anh H1, anh V bỏ chạy ra ra hướng đường Quốc lộ 14. Lúc này, Y G1, Y S2, Y Y, Y S đuổi theo anh V và anh H1, đuổi được một đoạn thì Y S và Y Y dừng lại còn Y G1 và Y S2 tiếp tục đuổi theo. Y S2 đuổi kịp và dùng cây cơ bi da đánh 01 cái trúng vào mặt anh V, anh V tiếp tục bỏ chạy một đoạn không thấy ai đuổi theo nên dừng lại. Y Sin N2 đứng nói chuyện với ông B và anh G không tham gia gì. Sau đó, Y G1 và Y S2 tiến về phía ông B và anh G nên anh G bỏ chạy. Tại đây, Y S2 dùng cây cơ bi da đánh trúng 01 cái vào trán ông B, ông B giằng lấy cây cơ bida trên tay Y S2 thì Y G1 dùng tay đấm 02 cái vào người ông B, rồi Y S2 tiếp tục dùng cây cơ bida đánh trúng 02 đến 03 cái vào người ông B. Khi thấy Y G1 và Y S2 đánh ông B thì Y Y và Y S khuyên ngăn Y G1 và Y S2 đừng đánh ông B nên Y G1 và Y S2 không đánh ông B nữa. Sau khi bị Y G1 và Y S2 đánh, ông B bị thương tích, phải khám, điều trị thương tích tại Bệnh viện Đ1 và anh V cũng bị thương tích, phải đi khám tại Bệnh viện Đ2, tỉnh Đắk Lắk.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 873/KLTTCT-PY ngày 22/11/2024 của Trung tâm pháp y sở Y1, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn B tại thời điểm giám định là 37%. Vật tác động: Vật tày, cứng và vật tày diện rộng. Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương để lại sẹo nham nhở vùng trán trái; Vết thương để lại sẹo cung mày trái; Xây xát để lại sẹo vùng gối trái do va chạm trực tiếp với vật tày diện rộng gây nên, có chiều hướng từ trước ra sau. Gãy mỏm gai các thân sống C4, C5, C7; Gãy mảnh cung thân sống C6 hai bên do vật tày, cứng tác động trực tiếp gây nên có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ sau ra trước.
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 874/KLTTCT-PY ngày 22/11/2024 của Trung tâm pháp y sở Y1, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Văn V tại thời điểm giám định là 3%. Vật tác động: Vật tày, cứng, có cạnh. Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương để lại sẹo vùng má trái do vật tày, cứng, có cạnh tác động trực tiếp gây nên, có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, từ trái qua phải.
Tại kết luận giám định số 1909/KL – KTHS ngày 05/12/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh Đ Kết luận: Xe mô tô mang biển số 47B2 – 205.63 có số khung không thay đổi, số máy không thay đổi.
Tại kết luận giám định số 1910/KL – KTHS ngày 19/12/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh Đ Kết luận: Tập tin Video (kí hiệu: A) không thấy dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh; chụp được 09 ảnh diễn biến, hành vi trong video.
Tại kết luận giám định số 748/KL – KTHS ngày 20/5/2025 của Phòng K3 Công an tỉnh Đ Kết luận: Tập tin Video (kí hiệu: A) không thấy dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh; không tiến hành dịch nội dung ra văn bản.
Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 24/11/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk đã truy tố các bị cáo Y Sơm Ayũn và Y Glen Ayũn về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Y Sơm A và Y Glen A2 đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo; đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Y Sơm A và Y Glen A2 như nội dung cáo trạng và đưa ra các tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Y Sơm A và Y G1 Ayŭn phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự.
Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Y Sơm A từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.
Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Y Glen A2 từ 05 năm tù đến 05 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 cây cơ bida dài 141cm, đường kính đầu gốc là 2,5cm, đường kính đầu nhỏ là 01cm, Y S2 sử dụng làm công cụ phạm tội; 01 cây cơ bida bị gãy làm 03 khúc (trong đó: khúc thứ nhất dài 46cm, đường kính đầu lớn là 03cm, đường kính đầu nhỏ là ốc kim loại 0,5cm; khúc thứ hai dài 64cm, đường kính đầu lớn là 02cm, đường kính đầu nhỏ là 1,2cm; khúc thứ ba dài 20cm, đường kính đầu lớn là 1,1cm và đường kính đầu nhỏ là 01cm) là cây cơ bi da Y Song Ayŭn cầm mang theo rồi để lại hiện trường. 02 cây bi da trên lấy trong quán B1, do chủ quán là anh Nguyễn Ngọc Thành N3 là chủ sở hữu hợp pháp. Tuy nhiên, do cây bi da đã cũ không còn giá trị sử dụng nên anh N3 không có yêu cầu nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì. Vì vậy, cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với vật chứng là 01 khúc cây củi dài 64cm, đường kính lớn nhất là 05cm, đường kính nhỏ là 03cm là do Y Y Kbuôr nhặt ven đường mang theo nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với xe mô tô biển số: 47B2-205.63, số máy: G3D4E-448342, số khung: RLCUG0610HY428429, nhãn hiệu: YAMAHA-EXCITER 150cc, màu sơn: Đen, Y G1 là chủ sở hữu hợp pháp và Y G1 không sử dụng xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội. Nên ngày 27/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho Y Glen A2 là chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với 01 file video có tên “6028126293799” được trích xuất từ camea an ninh trước quán B1, thời lượng là: 04 phút 04 giây, góc trên bên phải của màn hình bắt đầu dòng chữ số “08 – 11- 2024 22: 32: 57”, góc dưới bên phải có dòng chữ “IMOU” đưa vào đĩa CD, lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Về phần dân sự của vụ án:
Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Y Sơm A và bị cáo Y Glen A2 (Y S, Y Y, Y S1 cùng hỗ trợ cho Y G1 và Y S2) bồi thường cho ông Nguyễn Văn B số tiền 10.000.000 đồng và bồi thường cho anh Lê Văn V số tiền 15.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự. Người bào chữa cho bị cáo Y Sơm A và Y Glen A2 tranh luận:
Về tội danh: không có ý kiến gì về tội danh của các bị cáo mà Viện kiểm sát đề nghị.
Về hình phạt: Ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà đại diện viện kiểm sát đã đề nghị thì đề nghị hội đồng xét xử xem xét thêm các tình tiết là các bị cáo là người dân tộc tiểu số, sống ở vùng khó khăn, không được học hành nên động cơ và ý thức phạm tội không tới nơi, các bị cáo phạm tội lần đầu, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo mức án nhẹ nhất. Đại diện viện kiểm sát đối đáp: Viện kiểm sát đã xem xét tất cả các tình tiết giảm nhẹ phù hợp với quy định của pháp luật để Hội đồng xét xử xử phạt từng bị cáo. Do đó, Viện kiểm sát không tranh luận gì thêm.
Người bào chữa cho bị cáo bị cáo Y Sơm A và Y Glen A2 không tranh luận gì thêm và giữ nguyên quan điểm như trên.
Bị cáo Y Sơm A và bị cáo Y Glen A2 không tranh luận gì bổ sung.
Người bị hại không tranh luận gì. Người có quyền lời và nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì. Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ trong vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến và khiếu nại về hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo Y Sơm A và Y Glen A2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Thực hiện theo Kế hoạch ngày 18/10/2024 của Công an xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là Công an xã C, tỉnh Đắk Lắk), khoảng 22 giờ ngày 08/11/2024, tổ lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở thôn A, xã C, tỉnh Đắk Lắk, gồm: ông Nguyễn Văn B, Lê Văn V, Trần Kiên G, Phạm Minh H1, tổ chức tuần tra với mục đích bảo vệ vụ mùa, tuyên truyền nhắc nhở người dân chấp hành nghiêm Luật giao thông đường bộ. Khi đang tuần tra, tổ lực lượng phát hiện, Y Glen A2 điều khiển xe mô tô tham gia giao thông nhưng không đội mũ bảo hiểm thì bị tổ lực lượng tham gia bảo vệ an ninh trật tự tại cơ sở dừng xe, nhắc nhở. Sau đó, Y G1 bỏ xe lại và chạy vào quán B1 ở gần đó gặp Y Sơm A, Y Song A5, Y Yuôm K2, Y Sin N2 nhờ những người này đi cùng Y G1 để lấy lại xe mô tô cho Y G1 thì cả nhóm đồng ý. Khi đi ra Y Ayŭn dùng cây cơ bi da đánh trúng vào mặt anh Lê Văn V, Y S2 quay lại chỗ ông Nguyễn Văn B dùng cây cơ bi da đánh trúng 01 cái vào trán ông B, ông B giằng lấy cây cơ bi da trên tay Y S2 thì Y G1 dùng tay đấm 02 cái vào người ông B, Y S2 tiếp tục dùng cây cơ bi da đánh trúng 02 đến 03 cái và người ông B. Hậu quả, anh Lê Văn V bị thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03% và ông Nguyễn Văn B bị thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 37% thì xử lý theo điểm a, i, k khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự như bản cáo trạng truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
Tại điểm a, i, k khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:
"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm;
…..
i) Có tính chất côn đồ;
k) Vì lý do công vụ của nạn nhân”
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
…..
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này".
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Y Sơm A và Y Glen A2 là nghiêm trọng, các bị cáo không chỉ trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của bị hại mà còn thể hiện tính coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Trong vụ án này các bị cáo tham gia với tính chất, mức độ, mức độ khác nhau. Do đó, cần phân tích, đánh giá và nhân thân của từng bị cáo để phân hóa áp dụng mức hình phạt đối với từng bị cáo cho phù hợp.
Đối với bị cáo Y Sơm A: Bị cáo là người trực tiếp cầm cây bi da đánh 01 cái vào người anh V và đánh 03 cái vào người ông B, gây thương tích cho anh V với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03% và cùng với bị cáo Y G1 gây thương tích cho ông B với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 37%. Do đó, bị cáo Y Sơm A phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo Y Glen A2.
Đối với bị cáo Y Glen A2: Ngày 2009 bị Tòa án nhân dân huyện Cư Mgar, tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Huỷ hoại tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù và chấp hành xong tiền án phí (đã xóa án tích). Bị cáo là người kêu gọi những người đang chơi bi da ra để lấy lại xe và trực tiếp dùng tay đấm 02 cái vào người ông B, bị cáo cùng với bị cáo Y S2 gây thương tích cho ông B tỷ lệ tổn thương cơ thể là 37%.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; người bị hại làm đơn bãi nãi cho các bị cáo, các bị cáo là người dân tộc thiểu số. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Với tính chất mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tron vụ án này, đối với việc bị cáo Y Sơm A dùng cây cơ bi da đánh anh Lê Văn V gây thương tích 03% có dấu hiệu của tội Cố ý gây thương tích quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, sau khi xảy ra sự việc anh V đã làm đơn bãi nại và không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không xử lý đối với Y S2. Hành vi trên đã vi phạm vào điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/ NĐ – CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển các tài liệu liên quan đến Công an xã C để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Đối với Y Song A5 cầm cây cơ bi da, Y Y K2 cầm cây củi đi theo với mục đích là hù dọa để lấy lại xe mô tô cho Y G1, không có ý định đánh hay gây thương tích cho ai. Khi thấy anh V bỏ chạy thì Y S, Y Y chỉ đuổi theo 01 đoạn rồi dừng lại chứ không cùng Y S2, Y G1 đuổi theo đánh anh V. Khi Y S2, Y G1 đánh ông B thì Y S và Y Y không tham gia mà chỉ khuyên ngăn cả hai đừng đánh ông B. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với Y Song A5 và Y Yuôm K2.
Đối với Y Sin N2 đi cùng với nhóm Y G1, mục đích ra nói chuyện với ông Nguyễn Văn B và anh Trần Kiên G, không tham gia đánh ai. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không đề cập xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Y Sơm A và bị cáo Y Glen A2 cùng với Y S, Y Y, Y S1 tự nguyện bồi thường cho ông Nguyễn Văn B số tiền 10.000.000 đồng và bồi thường cho anh Lê Văn V số tiền 15.000.000 đồng. Các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự
Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 cây cơ bida dài 141cm, đường kính đầu gốc là 2,5cm, đường kính đầu nhỏ là 01cm, Y S2 sử dụng làm công cụ phạm tội; 01 cây cơ bida bị gãy làm 03 khúc (trong đó: khúc thứ nhất dài 46cm, đường kính đầu lớn là 03cm, đường kính đầu nhỏ là ốc kim loại 0,5cm; khúc thứ hai dài 64cm, đường kính đầu lớn là 02cm, đường kính đầu nhỏ là 1,2cm; khúc thứ ba dài 20cm, đường kính đầu lớn là 1,1cm và đường kính đầu nhỏ là 01cm) là cây cơ bi da Y Song Ayŭn cầm mang theo rồi để lại hiện trường. 02 cây bi da trên lấy trong quán B1, do chủ quán là anh Nguyễn Ngọc Thành N3 là chủ sở hữu hợp pháp. Tuy nhiên, do cây bi da đã cũ không còn giá trị sử dụng nên anh N3 không có yêu cầu nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì và 01 khúc cây củi dài 64cm, đường kính lớn nhất là 05cm, đường kính nhỏ là 03cm là do Y Y Kbuôr nhặt ven đường mang theo nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô biển số: 47B2-205.63, số máy: G3D4E-448342, số khung: RLCUG0610HY428429, nhãn hiệu: YAMAHA-EXCITER 150cc, màu sơn: Đen, Y G1 là chủ sở hữu hợp pháp và Y G1 không sử dụng xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội.
Đối với 01 file video có tên “6028126293799” được trích xuất từ camea an ninh trước quán B1, thời lượng là: 04 phút 04 giây, góc trên bên phải của màn hình bắt đầu dòng chữ số “08 – 11- 2024 22: 32: 57”, góc dưới bên phải có dòng chữ “IMOU” đưa vào đĩa CD, lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: Bị cáo Y Sơm A và bị cáo Y Glen A2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Y Sơm A và bị cáo Y Glen A2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Y Sơm A 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giam, ngày 08/05/2025
Xử phạt bị cáo Y Glen A2 05 (năm) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giam, ngày 12/09/2025
* Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự.
Ghi nhận bị cáo Y Sơm A và bị cáo Y Glen A2 cùng với Y S, Y Y, Y S1 đã tự nguyện bồi thường cho ông Nguyễn Văn B số tiền 10.000.000 đồng và bồi thường cho anh Lê Văn V số tiền 15.000.000 đồng. Các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây cơ bida dài 141cm, đường kính đầu gốc là 2,5cm, đường kính đầu nhỏ là 01cm; 01 cây cơ bida bị gãy làm 03 khúc (trong đó: khúc thứ nhất dài 46cm, đường kính đầu lớn là 03cm, đường kính đầu nhỏ là ốc kim loại 0,5cm; khúc thứ hai dài 64cm, đường kính đầu lớn là 02cm, đường kính đầu nhỏ là 1,2cm; khúc thứ ba dài 20cm, đường kính đầu lớn là 1,1cm và đường kính đầu nhỏ là 01cm) và 01 khúc cây củi dài 64cm, đường kính lớn nhất là 05cm, đường kính nhỏ là 03cm.
(Hiện các vật chứng trên đang được lưu giữ tại kho vật chứng của Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 – Đắk Lắk theo biên bản giao nhận ngày 25/11/2025).
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Y Sơm A phải chịu 200.000 đồng và bị cáo Y Glen A2 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)