- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị S cùng đồng phạm bị xét xử về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị S phạm tội “ ừa đảo chi m đoạt tài sản” và tội “ àm giả tài liệu của c quan tổ chức; s d ng tài liệu giả của c quan, tổ chức”. Bị cáo Phạm Đức A phạm tội “ ừa đảo chi m đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố t ng H nh sự; Điều 51 Bộ luật H nh sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2025/HS-ST Ngày: 17-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Hải Toản
Thẩm phán: Ông Nguyễn Nhật Duật
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Hoài; Ông Vũ Anh Tuấn; Bà Đàm Thị Thanh Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2025, tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh ti n hành t s th m c ng khai v án h nh sự th lý số: 150/2024/T ST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2024 theo Quy t định đưa v án ra t
số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 và Quy t định hoãn phiên tòa số 22/2025/HSST-QĐ ngày 26/3/2025, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Thị S (tên gọi khác: không có); sinh ngày 15 tháng 8 năm 1993 tại thành phố Hải Phòng; n i ĐKNKTT: th n P, ã M, huyện Đ, tỉnh Thái B nh; n i tạm trú: tổ A, khu T, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; chỗ : tổ E, khu T phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; tr nh độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; t n giáo: kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ng Nguyễn Trọng D và bà ư ng Thị ; có chồng là Phạm Đức A và có 02 con; tiền án, tiền sự: kh ng có.
Nhân thân: Năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Tiên ãng, thành phố Hải Phòng phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo hiện tại ngoại n i cư trú, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Phạm Đức A (tên gọi khác: không có); sinh ngày 17 tháng 9 năm 1989 tại tỉnh Thái B nh; n i ĐKNKTT: th n P, ã M, huyện Đ, tỉnh Thái B nh; n i tạm trú: tổ A, khu T, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Kỹ sư; tr nh độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; t n giáo: kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ng Phạm Văn Đ và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Nguyễn Thị S và có 02 con; tiền án, tiền sự: kh ng có.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 06/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C ng an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị S: uật sư Hà Anh B, C ng ty L2 thuộc Đoàn uật sư tỉnh Q; địa chỉ: I H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh và uật sư Bùi Quang T1, Văn phòng 3 – Chi nhánh M; địa chỉ: A T, khu G, phường Q, thị ã Q, tỉnh Quảng Ninh; cả hai uật sư đều có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Đức A: uật sư Nguyễn Thị Hồng D1, C ng ty 2 thuộc Đoàn uật sư tỉnh Q; địa chỉ: I H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh và uật sư Bùi Quang T1, Văn phòng 3 – Chi nhánh M; địa chỉ: A T, khu G, phường Q, thị ã Q, tỉnh Quảng Ninh; cả hai uật sư đều có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Bà Trần Thị T2, sinh năm 1974; địa chỉ: th n C, ã C, huyện Đ, tỉnh Thái B nh, vắng mặt (có đ n in án vắng mặt).
+ Ông Vũ Đức T3, sinh năm 1974; địa chỉ: th n P, ã M, huyện Đ, tỉnh Thái B nh, có mặt tại phiên tòa
+ Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1989; địa chỉ: tổ G, khu F, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đ n in án vắng mặt).
+ Bà Nguyễn Thị Y1, sinh năm 1995; địa chỉ: th n Đ, ã , thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đ n in án vắng mặt).
- Người làm chứng:
+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970; địa chỉ: th n P, ã M, huyện Đ, tỉnh Thái B nh, vắng mặt;
+ Ông Đặng Quốc T4, sinh năm 1991; địa chỉ: th n C, ã C, huyện Đ, tỉnh Thái B nh, vắng mặt;
+ Ông Trần Văn T5, sinh năm 1975; địa chỉ: th n T, ã H, huyện Đ, tỉnh Thái B nh, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s v án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng từ đầu năm 2022 đ n tháng 10/2022, trên địa bàn thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, do kh ng có tiền chi tiêu ph c v m c đích cá nhân và trả nợ, Nguyễn Thị S đã có lời nói gian dối đưa ra th ng tin kh ng có thật là vợ chồng Soàn làm ăn, kinh doanh rất tốt, đã mua được nhà đất có giá trị lớn thành phố H và vợ chồng S còn thi u một ít tiền để đầu tư làm ăn kinh doanh và đầu tư kinh doanh bất động sản nên vay thêm tiền, sẽ th chấp quyền s d ng một số th a đất (giấy chứng nhận quyền s d ng đất) để người khác tin tư ng cho S vay tiền. S đã thuê làm tổng số 04 (bốn) Giấy chứng nhận quyền s d ng đất (GCNQSDĐ) giả mang tên vợ chồng Nguyễn Thị S - Phạm Đức A, đưa làm tin hoặc s d ng vi t giấy đặt cọc bán đất cho các bị hại, để bị hại tư ng thật, giao tiền cho S hoặc vợ chồng S. Ngoài ra, S còn nói dối có mối mua vật tư cung cấp cho C ng ty cổ phần N1, tr s ã , thành phố H, nhưng kh ng đủ tiền, nên rủ người khác góp vốn mua vật tư, sẽ chia “hoa hồng”. Sau khi nhận được tiền, S chi m đoạt chi tiêu ph c v m c đích cá nhân. Khi được vợ là Nguyễn Thị S bàn vay tiền của vợ chồng bà Trần Thị T2, ng ê Thanh B1, vợ chồng bà T2 yêu cầu phải có tài sản th chấp (Sổ đỏ). Soàn nói được anh họ Soàn tên là S1 cho vợ chồng S - Đức A đứng tên 02 th a đất, Đức A bi t rõ vợ chồng Đức A chưa s hữu th a đất nào, Đức A cũng kh ng ký, kh ng làm thủ t c g về nhà đất đối với 02 th a đất này và nhận thức rõ 02 th a đất Soàn nói được S1 cho đứng tên đều kh ng thuộc quyền s hữu của vợ chồng Đức A. Tuy nhiên, Đức A vẫn đồng ý cùng với S nói dối, nhận với vợ chồng bà T2 là vợ chồng Đức A - Soàn s hữu 02 th a đất trên để vợ chồng bà T2 tin tư ng cho vay tiền. Khi S bàn vay thêm tiền của ng Vũ Đức T3, th Đức A nói với S n u làm được “Sổ đỏ” th vay thêm tiền của ng T3. Nội dung c thể như sau:
Vụ thứ 1: Th ng qua bà Nguyễn Thị T là mẹ đẻ của Phạm Đức A, vợ chồng Nguyễn Thị S - Phạm Đức A bi t vợ chồng bà Trần Thị T2 và ng ê Thanh B1 (trú tại th n C, C, Đ, Thái B nh). Đầu tháng 12/2021, vợ chồng S - Đức A, đề nghị bà Trần Thị T2 cho vợ chồng S vay tiền để kinh doanh, bà T2 đồng ý. Ngày 13/12/2021, bà T2 chuyển khoản 150.000.000 đồng từ tài khoản 0211000521552 m tại V vào tài khoản 052100717103 ngân hàng V mang tên Phạm Đức A (do Soàn quản lý s d ng). Đ n ngày 21, 22/01/2022, S s d ng tài khoản của Đức A chuyển trả nợ bà T2 100.000.000đồng, còn nợ lại 50.000.000đồng. Cũng trong khoảng thời gian này, do cần nhiều tiền để chi tiêu, S đã nhiều lần nói dối bà Trần Thị T2 là vợ chồng Soàn làm ăn, kinh doanh rất tốt; đã mua được nhà đất có giá trị lớn thành phố H và đã trả được một phần tiền mua đất, hiện vợ chồng S còn thi u một ít tiền, nên đặt vấn đề vay bà T2 200.000.000 đồng. Đức A đồng ý, Đức A trực ti p s d ng zalo của Đức A k t bạn zalo với bà T2 hỏi vay tiền. Do trước đó vợ chồng S còn vay bà T2 50.000.000 đồng và 6.500.000 đồng lãi chưa trả nên, bà T2 đồng ý cho vợ chồng S vay số tiền trên và tiền vay mới, tổng là 200.000.000đồng. Ngày 24/01/2022, bà T2 đã chuyển khoản 143.500.000 đồng cho vợ chồng S vay vào tài khoản Phạm Đức A. Hai bên thống nhất vi t Giấy biên nhận gộp hai khoản tiền vay thành 200.000.000 đồng. Sau đó, S đặt vấn đề vay thêm tiền vợ chồng bà T2, th bà T2 yêu cầu S phải có tài sản th chấp (Sổ đỏ).
Sau khi bà T2 yêu cầu phải có tài sản th chấp (GCNQSDĐ), cũng trong khoảng tháng 01/2022, S nói dối Đức A có người họ hàng a tên là S1 (kh ng có thật) cùng quê Hải Phòng, ra Quảng Ninh làm ăn lập nghiệp, đầu tư có nhiều đất khu vực H, thành phố H. Soàn làm ăn, góp chung với S1 khoảng 100-200 triệu đồng, S1 để vợ chồng S đứng tên 01 th a đất diện tích 82,8m2 phường V, thành phố H, phần còn lại S1 cho trả dần. Soàn bàn với Đức A th chấp th a đất này cho vợ chồng bà T2 - ng B1 để vay thêm 300 triệu đồng lấy tiền làm ăn và góp tiền mua đất. Đức A bi t và nhận thức được th a đất Soàn nói kh ng thuộc s hữu của vợ chồng Đức A, nhưng do tin tư ng S làm ăn tốt, sẽ mua được th a đất đó như S nói nên đồng ý và s d ng zalo của Đức A gọi zalo video cho bà T2 nói với bà T2 vợ chồng Đức A th chấp quyền s d ng th a đất nói trên đề nghị vay số tiền 300 triệu đồng như đã bàn với S. Ngày 15/02/2022, S chuyển tiền cho tài khoản ngân hàng H1 đặt làm giả GCNQSDĐ số CK719030 diện tích 82,8m2. Khoảng ngày 20/02/2022, S nhận được GCNQSDĐ giả, S g i h nh ảnh GCNQSDĐ giả th a đất trên qua zalo cho Đức A, sau khi nhận được h nh ảnh Soàn g i, Đức A chuyển h nh ảnh GCNQSDĐ này cho bà T2. Ngày 21/02/2022, S g i GCNQSDĐ giả trên qua e khách cho bà Nguyễn Thị T, nhờ đưa cho vợ chồng bà T2 để th chấp vay tiền. Sáng ngày 22/02/2022, ng Lê Thanh B1 cùng bà T đi Quảng Ninh gặp vợ chồng S, cầm theo GCNQSDĐ. Khi ra đ n n i, Đức A đi làm chưa về, Soàn chỉ cho ng B1 th a đất trống liền kề ng i nhà vợ chồng S (th a đất sau này vợ chồng S dựng làm quán) nói thuộc s hữu của vợ chồng S. Soàn còn dẫn ng B1 đ n th a đất có nhà 2 tầng khu gần ngã tư V, phường V, thành phố H và nhận chính là th a đất 82,8m2 của vợ chồng Soàn th chấp, g i GCNQSDĐ cho vợ chồng ng B1. Sau khi đi em th a đất, ng B1 quay lại nhà S, S vi t giấy “Giấy giao nhận tiền và tài sản th chấp ngày 22/02/2022” có nội dung th chấp th a đất theo GCNQSDĐ số CK719030 diện tích 82,8m2, vay số tiền 500 triệu đồng. Đ n khoảng 11 giờ cùng ngày, Đức A đi làm về, S nói với Đức A đã làm ong thủ t c giấy tờ th chấp th a đất. Soàn đưa cho Đức A giấy giao nhận đã được S vi t trước đó. Đức Anh em, đọc lại nội dung thấy đúng nội dung đã bàn với S về s tiền vay, th ng tin th a đất và ký ác nhận m c bên vay rồi đưa cho ng B1. Chiều ngày 22/02/2022, bà T2 đã chuyển 300.000.000 đồng vào tài khoản Phạm Đức A số 052100717103 ngân hàng V.
Cuối tháng 02/2022, S ti p t c nói dối bà T2 mua thêm th a đất khác, đề nghị bà T2 cho vợ chồng S vay thêm tiền để trả tiền đất. Mặt khác, S nói với Đức A là “anh S1” tạo điều kiện để cho vợ chồng S đứng tên th a đất khác h n 100m2 chính là th a đất trống bên cạnh nhà vợ chồng S đang , chỉ phải trả trước ít tiền, còn lại làm ăn được th trả sau. Soàn bàn với Đức A ti p t c lấy th a đất này th chấp vay thêm tiền của bà T2, Đức A đồng ý. Đức A đã s d ng zalo của Đức A để gọi, nhắn tin qua zalo với bà T2 đề nghị vay thêm tiền, hứa hẹn có “Sổ đỏ” th a đất trống bên cạnh nhà vợ chồng Đức A đang để th chấp. Về phía Soàn, được sự đồng ý của Đức A về việc vay thêm tiền của vợ chồng bà T2 bằng việc hứa hẹn th chấp th a đất diện tích 116,5m2. Trong tháng 02/2022, S đã cung cấp th ng tin th a đất 106 - l 3C, thuộc tờ bản đồ Quy hoạch khu dân cư bờ Tây cầu T, địa chỉ khu T, phường H, TP H, diện tích 116,5m2, đặt làm giả GCNQSDĐ số CK718330 mang tên vợ chồng S - Đ. Sau khi nhận được GCNQSDĐ giả, S g i e khách cho bà T, nhờ bà T đưa cho vợ chồng bà T2 để làm tin. Sau khi bà T2 nhận được sổ đỏ, các ngày 28/02/2022, 02/3/2022, 15/3/2022, bà T2 đã chuyển 03 lần tiền cho vợ chồng S vay với tổng số 500.000.000 đồng vào tài khoản Phạm Đức A. Sau mỗi lần bà T2 chuyển tiền, Đức A đều nhắn tin ác nhận đã nhận được tiền g i lại bà T2.
Như vậy, tổng số tiền, vợ chồng S - Đức A đã nói dối, vay của vợ chồng bà Trần Thị T2 03 lần là 800.000.000đồng. Sau khi nhận tiền của bà T2 bằng việc thế chấp 02 GCNQSĐ giả nêu trên, vợ chồng S trả lại một phần tiền (lãi) cho bà T2 là 90.700.000đồng, số tiền chiếm đoạt còn lại chưa trả là 709.300.000đồng.
Đ n tháng 11/2022, sau khi nhiều lần bà T2 yêu cầu vợ chồng Nguyễn Thị S thanh toán tiền như đã thỏa thuận, nhưng vợ chồng S kh ng thực hiện. Bà T2 đ n gặp vợ chồng S để đề nghị c ng chứng hợp đồng chuyển nhượng đất, đồng thời cầm 02 GCNQSDĐ Soàn đưa đ n Văn P c ng chứng tại H để hỏi thủ t c chuyển nhượng, th được bi t là giấy giả. Bà T2 yêu cầu vợ chồng S trả lại tiền, S - Đức A hứa hẹn sẽ trả lại. Ngày 13/12/2022, vợ chồng S vi t “Giấy cam k t” hẹn đ n ngày 18/01/2023, sẽ thanh toán khoản nợ cho bà T2, nhưng kh ng thực hiện theo cam k t. Ngày 24/3/2023, bà Trần Thị T2 đ n C ng an tỉnh Q g i đ n tố giác và đề nghị lý vợ chồng Nguyễn Thị S, Phạm Đức A về hành vi lừa đảo chi m đoạt tài sản của ng bà theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, quá tr nh điều tra còn ác định được: Khoảng tháng 12/2021 và tháng 01/2022, S còn vay bà T2 150.000.000đồng và ngày 24/01/2022, bà T2 đã chuyển khoản 143.500.000 đồng cho vợ chồng S vay vào tài khoản Phạm Đức A, đã trả được 100.000.000đồng, còn nợ lại 193.500.000đồng. Từ tháng 6/2022 đ n tháng 10/2022, bà Trần Thị T2 còn nhiều lần góp vốn đầu tư làm ăn cùng vợ chồng Nguyễn Thị S, tổng số tiền là 1.937.000.000đồng. Soàn đã chuyển trả cho bà T2 1.897.500.000đồng, còn nợ 39.500.000.000đồng. Tổng nợ 89.500.000đồng. Từ tháng 11/2022, S đã trả thêm cho bà T2 được 84.000.000đồng, còn nợ 5.500.000đồng, bà T2 kh ng yêu cầu g thêm về số nợ này.
Vụ thứ 2: Ông Vũ Đức T3 (trú tại th n P, ã M, huyện Đ, Thái B nh) có quan hệ họ hàng với gia đ nh bà Nguyễn Thị T, mẹ đẻ của Phạm Đức A. Từ khoảng tháng 12/2021, vợ chồng S - Đức A hỏi và nhiều lần vay tiền của ng T3 dưới h nh thức chuyển khoản và tiền mặt, số tiền mỗi lần vay từ 20.000.000đồng đ n 30.000.000đồng, một số lần đã chuyển trả tiền cho ng T3. Tính đ n tháng 4/2022, vợ chồng S - Đức A còn nợ ng T3 100 triệu đồng. úc này, do cần tiền chi tiêu ph c v m c đích cá nhân và trả nợ, S nảy sinh ý định chi m đoạt tiền của ng T3, bằng cách nói dối ng T3 là vợ chồng S có tài sản th chấp là nhà đất, để ng tin tư ng cho S vay tiền. Trong tháng 4/2022, S bàn với Đức A, nói th chấp cho ng T3 th a đất trống h n 100m2 (làm quán cạnh nhà) T, phường H, mà anh S1 đồng ý cho vợ chồng S đứng tên để vay thêm tiền làm ăn. Đức A đồng ý, nói với S “làm được ong sổ hãy vay”, nhưng trước đó Đức A đã nói dối bà T2 th a đất đó của vợ chồng Đức A đặt vấn đề vợ chồng Đức A vay thêm tiền bà T2 và S đã th chấp GCNQSDĐ giả th a đất này vay 500.000.000đồng. Đầu tháng 5/2022, S gọi điện cho ng T3, nói dối vợ chồng Soàn s hữu nhà đất phường H, thành phố H hỏi vay số tiền 600 triệu đồng, sẽ th chấp nhà đất và khi có sổ đỏ sẽ đưa GCNQSĐ cho ng T3 giữ làm tin. Ông T3 tư ng thật, đồng ý cho vợ chồng S - Đức A vay tiền, thỏa thuận lãi suất khoảng 3%/tháng. Ngày 14/05/2022, ng T3 thuê e ta i của anh Trần Văn T5 ch từ Thái B nh ra nhà vợ chồng S Quảng Ninh. Tại nhà S, có vợ chồng S-Đức A, ng T3 đã thỏa thuận với vợ chồng Đức A về việc cho vợ chồng S - Đức A vay tiền hứa hẹn th chấp th a đất trên. Soàn vi t giấy vay tiền ác nhận vợ chồng S vay 600.000.000 đồng (bao gồm cả 100.000.000 nợ cũ), S và Đức A ký giấy vay tiền, ong đưa giấy cho ng T3, ng T3 giao tiền mặt cho v chồng S-Đ. Đ n đầu tháng 6/2022, S gọi điện cho ng T3 hỏi vay thêm 400.000.000 đồng, hứa hẹn th chấp bằng quyền s d ng đất và sẽ chuyển cho ng T3 GCNQSĐ làm tin. Ông T3 đồng ý và chuyển tiền vào tài khoản cho S vay số tiền 380.000.000đồng (Soàn nói lần trước vay làm ăn có lãi nên biếu ông T3 20.000.000đồng). Ngày 03/6/2022, S vi t Giấy vay tiền ác nhận vợ chồng S vay của vợ chồng ng T3 400.000.000 đồng, đưa cho Đức A ký và nhờ bà T mẹ đẻ Đức A cầm đưa cho ng T3. Sau đó, ng T3 nhiều lần nhắc Soàn đưa GCNQSĐ để làm tin. Tháng 7/2022, S đã liên hệ tài khoản zalo “L4” thuê làm giả GCNQSĐ số CK718330 của th a đất số 106-l 3 C, địa chỉ khu T, phường H, diện tích 116,5m2, mang tên vợ chồng S. Khoảng tháng 8-9/2022, S cầm GCNQSĐ giả trên về quê đưa cho ng T3.
Sau khi được ng T3 giao tiền, S kh ng trả tiền lãi cho ng T3 như đã thảo thuận, ng T3 hỏi nhiều lần nhưng S đều khất. Đ n cuối tháng 10/2022, S kh ng trả tiền như đã hứa. Ngày 03/11/2022, ng T3 đ n Văn phòng đăng ký quyền s d ng đất thành phố H, đề nghị kiểm tra th ng tin giấy chứng nhận Soàn đưa và hỏi thủ t c sang tên, phát hiện GCNQSD đất Soàn đưa là giả, nên bị giữ lại. Ngày 08/11/2022, Văn phòng đăng ký quyền s d ng đất - Ủy ban nhân dân thành phố H ban hành c ng văn chuyển GCNQSD đất tạm giữ của ng Vũ Đức T3 đ n C quan Cảnh sát điều tra C ng an thành phố H đề nghị điều tra, làm rõ,
lý theo quy định.
Ngoài ra, quá tr nh điều tra còn ác định được: Từ tháng 8/2022 đ n tháng 10/2022, S còn nhiều lần vay tiền ng T3 trả lãi suất theo thỏa thuận. Tính đ n tháng 10/2022, S còn 04 khoản vay chưa trả được cho ng T3 với tổng số tiền 650.000.000đồng. Ngày 03/11/2022, ng T3 đã ra nhà S chốt c ng nợ, S đã vi t “Giấy vay tiền” của vợ chồng ng T3 650.000.000 đồng, có Đức A ký ác nhận.
Như vậy tổng số tiền 02 lần vợ chồng Nguyễn Thị S và Phạm Đức A chiếm đoạt của ông T3 là 880.000.000đồng. Ngoài ra, S còn nợ trong quan hệ dân sự của ông T3 số tiền 750.000.000 đồng. Quá trình điều tra, ông T3 đề nghị xử lý vợ chồng Soàn theo quy định của pháp luật và yêu cầu vợ chồng S trả cho ông T3 tổng số tiền 1.650.000.000 đồng.
Vụ thứ 3: Khoảng cuối 8/2022, S nói dối chị Nguyễn Thị Y (trú tại tổ G, khu F, B, H), chồng S - Phạm Đức A đang làm Trư ng ngành CI trong phân ư ng s a chữa của C ng ty cổ phần N1, thường uyên trực ti p đi mua sắm các vật tư thi t bị để s a chữa thay th cho C ng ty; quá tr nh mua bán sẽ kênh được giá chênh lệch và hư ng phần trăm hoa hồng, nhưng hiện tại vợ chồng S kh ng đủ tiền để mua số thi t bị vật tư C ng ty cần, nên rủ chị Y góp vốn, sau khi lắp đặt s a chữa ong khoảng 15 ngày sẽ thanh toán được tiền với C ng ty, th S sẽ trả lại tiền cho chị Y. Chị Y hỏi S về số tiền góp vốn c thể, tiền lãi được bao nhiêu, th S nói cần 200.000.000 đồng để mua vật tư thi t bị. N u chị Y làm chung, th lo số tiền trên, còn c ng mua sắm, s a chữa th vợ chồng S làm, lãi do kênh giá mua thi t bị vật tư là 100.000.000 đồng sẽ chia đ i mỗi người được 50.000.000 đồng, chị Y tư ng S nói thật nên đồng ý. Sau đó, từ tháng 9/2022 đ n tháng 10/2022, chị Y đã 04 đợt chuyển tiền cho S làm nhiều lần. Sau khi nhận được tiền, S chi m đoạt, s d ng chi tiêu vào m c đích cá nhân. C thể như sau:
Đợt thứ 01: Như đã thống nhất thỏa thuận với chị Y, ngày 19/9/2022, chị Y đ n nhà S, đưa cho S 60.000.000đồng tiền mặt. Ngày 20/9/2022, chị Y chuyển khoản từ tài khoản của chị Y số: 1018181279 ngân hàng V đ n số tài khoản 0521000730870 ngân hàng V của S 40.000.000 đồng và chị Y nhờ chồng là anh Tạ Thái S1 chuyển khoản từ số tài khoản 6010116250001 ngân hàng M1 của anh S1 vào số tài khoản ngân hàng trên của Soàn 100.000.000 đồng. Tổng cộng chuyển 200.000.000 đồng cho S như thỏa thuận. Sau khi chị Y chuyển tiền cho S, chị Y yêu cầu S vi t giấy biên nhận số tiền góp vốn trên. Nhưng do trước đó, S nói dối với chị Y là vợ chồng S có th a đất mang tên của vợ chồng S tại địa chỉ khu đ thị T, thuộc tổ G, khu T, phường H, diện tích 116,5m2, nên S đã thoả thuận và vi t hợp đồng nhận tiền đặt cọc 200.000.000 đồng để bán cho chị Y th a đất theo giấy chứng nhận giả S đã làm, S và chị Y ký vào hợp đồng trên. Ngày 06/10/2022, S đã chuyển khoản cho chị Y 120.000.000 đồng. Còn lại 80.000.000đồng.
Đợt thứ 02: Sau “góp vốn lần đầu” khoảng 10 ngày, S gọi điện thoại cho chị Y nói dối là C ng ty chồng Soàn đang có hợp đồng mua sắm vật tư, hỏi vay tiền chị Y để thực hiện hợp đồng trên. Chị Y tư ng thật đề nghị được góp vốn làm cùng, hỏi S mức góp c thể, lợi nhuận chia th nào. Soàn nói với chị Y “Gói thầu này cần số tiền rất lớn, chị cứ chuyển cho em được bao nhiêu c thể em sẽ báo lại chị mức chia lợi nhuận”. Chị Y đồng ý góp vốn và 7 lần chuyển tiền cho S, tổng cộng là 330.000.000 đồng, c thể:
Ngày 01 đ n ngày 05/10/2022, chị Y chuyển khoản từ tài khoản của chị Y đ n tài khoản số 0521000717103 ngân hàng V tên Phạm Đức A lần lượt là 47.000.000 đồng, 25.000.000 đồng và 4.000.000 đồng. Tổng 76.000.000đồng.
Ngày 03/10/2022 đ n ngày 05/10/2022, chị Y chuyển khoản đ n tài khoản ngân hàng V1 của S lần lượt số tiền là 74.000.000đồng, 50.000.000đồng, 100.000.000đồng và 30.000.000đồng. Tổng 254.000.000đồng.
Sau khi nhận 330.000.000đồng từ chị Y, S nói với chị Y: “Em chia lãi cho chị 50.000.000 đồng, số tiền còn lại đã s d ng để chi tiêu cá nhân h t.
Đợt thứ 03: Sau lần “góp vốn thứ 2” khoảng 10 ngày, S lại gọi điện thoại, nhắn tin cho chị Y nói dối có hợp đồng mua sắm vật tư cho Nhà máy N2 cần vay tiền chị Y. Chị Y tư ng thật, đề nghị S cho góp vốn cùng với số tiền là 100.000.000đồng, S đồng ý, hứa trả lãi là 25.000.000 đồng. Chị Y đã chuyển khoản 03 lần từ tài khoản ngân hàng của chị Y đ n tài khoản ngân hàng của S lần lượt là: 10.000.000 đồng, 60.000.000 đồng và 30.000.000 đồng. Tổng cộng 100.000.000đồng. Sau khi nhận tiên, S hứa trả chị Y 30.000.00đồng tiền lợi nhuận và hẹn chị Y đ n ngày 18/10/2022 sẽ trả đầy đủ tiền gốc và lợi nhuận là 130.000.000 đồng.
Đợt thứ 04: Chiều ngày 14/10/2022, S gọi điện thoại cho chị Y hỏi mượn tiền để chồng S thực hiện hợp đồng mua nguyên liệu là dây đốt lò cho C ng ty N1, còn thi u 70.000.000 đồng, đ n khoảng 23 giờ cùng ngày sẽ trả cho chị Y và hứa trả số tiền hoa hồng là 25.000.000 đồng, chị Y tư ng thật đã đồng ý. Sau đó lần lượt chuyển 02 lần tiền là 35.000.000đồng và 50.000.000đồng từ tài khoản ngân hàng của chị Y đ n số tài khoản ngân hàng của S, trong đó có 15.000.000 đồng chị Y đóng họ cho S, còn lại góp vốn làm ăn là 70.000.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền chị Y đã chuyển cho S trong 04 đợt là 700.000.000đồng. Soàn Đã trả cho chị Y 120.000.000đồng. Còn lại 580.000.000 đồng.
Ngày 30/12/2022, chị Nguyễn Thị Y g i đ n và đ n C ng an thành phố H tr nh báo về việc Nguyễn Thị S có hành vi lừa đảo chi m đoạt tiền của chị và đề nghị lý Soàn theo quy định của pháp luật. Chị Y khai, quá tr nh giao dịch và chuyển tiền, chị Y chỉ làm việc với S, kh ng gặp và thỏa thuận với Đức A. Việc góp vốn mua vật tư tại C ng ty của Đức A đều là S đưa ra th ng tin, chị Y chưa bao giờ gặp và thỏa thuận với Đức A hoặc có mặt Đức A. Chị Y yêu cầu S phải trả chị Y số tiền còn lại là 580.0000.000đồng.
Vụ thứ 4: Nguyễn Thị S, có quan hệ quan bi t ã hội với chị Nguyễn Thị Y1, sinh năm 1995, trú tại th n Đ, ã , thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Ngày 27/8/2022, S đặt vấn đề hỏi vay chị Y1 200.000.000đồng, thỏa thuận vay thời hạn 02 tháng, với mức lãi suất 3.000 đồng/01 triệu/ ngày, đồng thời S hứa hẹn sẽ đưa cho chị Y1 01 GCNQSDĐ và vi t Hợp đồng nhận đặt cọc bán th a đất số: 19B l 7C tờ bản đồ số OH khu dân cư bờ Tây cầu T, diện tích th a đất 109,71m², tại địa chỉ Tổ G, Khu T, H, thành phố H cho chị Y1, số tiền 200.000.000đồng, thỏa thuận đ n hẹn mà kh ng trả được được tiền cho chị Y1, th sẽ bán th a đất này cho chị Y1 (có anh Phạm Ti n H là chồng chị Y1 bi t) để làm tin. Sau đó chị Y1 chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng số 106868804814 tại ngân hàng V2 đ n số tài khoản ngân hàng V số 0521000717103 mang tên Phạm Đức A cho S số tiền 182.000.000đồng (thỏa thuận trả lãi trước 01 tháng, nên chị Y1 trừ lu n 18.000.000đồng). Sau đó cùng ngày, S giao cho chị Y1 GCSQSDĐ giả số CK718995, th a đất số: 19B l 7C tờ bản đồ số OH khu dân cư bờ Tây cầu T, diện tích th a đất 109,71m², tại địa chỉ Tổ G, Khu T, H, thành phố H), cất giữ. Đ n ngày 28/09/2022, S chuyển trả chị Y1 tiền lãi tháng thứ hai là 18.000.000đồng. Khi đ n hạn thanh toán, chị Y1 nhiều lần đ n nhà S đòi tiền, S chưa trả nên chị Y1 yêu cầu vợ chồng chị S làm thủ t c chuyển nhượng th a đất trên cho chị Y1, S kh ng đồng ý. Sau này qua t m hiểu chị Y1 mới bi t GCSQSDĐ mà S đưa cho chị cầm làm tin là giả. Sau nhiều lần đòi tiền, S đã trả cho chị Y1 150.000.000đồng tiền gốc. Tổng số tiền S đã chuyển trả cho chị Y1 của khoản vay này là 186.000.000đồng. Còn nợ lại chị Y1 14.000.000đồng.
Quá tr nh điều tra, còn ác định được: Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2022 đ n tháng 10/2022, Nguyễn Thị S nhiều lần vay mượn tiền của chị Y1 nói để làm ăn, mỗi lần mượn tiền đều thoả thuận sẽ mượn trong 1-2 tuần sẽ trả cho tiền gốc và lợi nhuận theo thỏa thuận. Tổng số 25 lượt vay, với tổng số tiền 1.880.000.000đồng, đã trả được 20 lượt vay số tiền gốc và lợi nhuận theo thỏa thuận, với số tiền gốc là 1.440.000.000đồng, còn lại 05 lượt vay trong các ngày 08, 15, 20, 21 và 24/10/2022, với tổng số tiền 440.000.000đồng tiền, S chưa trả được cho chị Y1.
Như vậy số tiền Nguyễn Thị S chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Y1 là 200.000.000 đồng, S đã trả cho chị Y1 186.000.000 đồng, còn lại 14.000.000đồng. Ngoài ra, S còn nợ trong quan hệ dân sự của chị Y1 440.000.000 đồng. Quá trình điều tra, chị Y1 đề nghị xử lý Soàn theo quy định của pháp luật và yêu cầu S trả cho chị tổng số tiền 454.000.000 đồng.
Tại Bản k t luận định giám định số 415 ngày 07/4/2023 và Số 559 ngày 12/5/2023 của Phòng K C ng an tỉnh Q, k t luận: 04 Giấy chứng nhận quyền s d ng đất gồm: 02 giấy số CK719330 của th a đất số 106-l 3C, địa chỉ khu T, phường H, diện tích 116,5m2, 01 giấy số CK718030 th a đất số 16, thuộc tờ bản đồ số 30, địa chỉ tại tổ D, khu G, phường V, thành phố H, diện tích 82,8m2, 01 giấy số CK718995 của th a đất số: 19B l 7C tờ bản đồ số OH khu dân cư bờ Tây cầu T, diện tích th a đất 109,71m², tại địa chỉ Tổ G, Khu T, phường H, thành phố H, đều mang tên chủ s hữu Nguyễn Thị S - Phạm Đức A, là giấy chứng nhận giả.
Tại Bản k t luận giám định về chữ vi t Số 667 ngày 31/5/2023 của Phòng K C ng an tỉnh Q, k t luận:
- Chữ vi t, chữ ký mang tên Nguyễn Thị S trong các Hợp đồng vay vốn, Hợp đồng thỏa thuận, Biên bản giao nhận tiền và tài sản th chấp ... và chữ vi t, chữ ký mẫu giám định của Nguyễn Thị S, là do cùng một người vi t, ký ra.
- Chữ ký dạng chữ vi t mang tên “Nguyễn Thị T” và chữ vi t dưới m c “Người làm chứng” trong các tài liệu cần giám định là Hợp đồng vay vốn, Hợp đồng thỏa thuận, Biên bản giao nhận tiền và tài sản th chấp, so với chữ vi t trong các tài liệu mẫu so sánh (Nguyễn Thị T), là do cùng một người vi t ra.
- Chữ ký mang tên “Phạm Đức A” trong các tài liệu cần giám định là Hợp đồng vay vốn, Hợp đồng thỏa thuận, Biên bản giao nhận tiền và tài sản th chấp, so với chữ ký trong các tài liệu mẫu so sánh (Phạm Đức A), là do cùng một người ký ra.
Tại Bản k t luận giám định về chữ vi t Số 506 ngày 16/4/2024 của Phòng K C ng an tỉnh Q, k t luận:
Các tài liệu cần giám định gồm: “Giấy vay tiền” (A01, A02, A03) do ng Vũ Đức T3 giao nộp; Giấy biên nhận (A04) ghi người vi t giấy Nguyễn Thị S, N cho mượn “Nguyễn Thị Y1”, người làm chứng “Phạm Đức A”; Hợp đồng đặt cọc Bên bán là Phạm Đức A, Nguyễn Thị S; Bên mua là Nguyễn Thị Y1, đề ngày 27/8/2022 (A05)
- Chữ ký mang tên Nguyễn Thị S trong các tài liệu A01 đ n A05 so với chữ ký mẫu giám định của Nguyễn Thị S, là do cùng một người ký ra.
- Chữ vi t trong các tài liệu cần giám định (trừ chữ vi t
màu đỏ) từ A01 đ n A04 ; chữ vi t (trữ chữ vi t dưới m c “Đại diện bên B”) trong tài liệu cần giám định A05 so với chữ vi t tài liệu mẫu của Nguyễn Thị S, do cùng một người vi t ra.
- Chữ ký mang tên Phạm Đức A trong các tài liệu cần giám định A01 đ n A04 so với chữ ký mang tên Phạm Đức A trong tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký ra.
- Chữ vi t Phạm Đức A dưới chữ ký trong các tài liệu cần giám định A01 đ n A03 so với chữ vi t dưới m c “Người làm chứng” trong tài liệu cần giám định A04 so với chữ vi t trong tài liệu mẫu so sánh do cùng một người vi t ra.
Tại bản Cáo trạng số 7013/CT-VKSQN-P2 ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị S về các tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật H nh sự. Truy tố bị cáo Phạm Đức A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật H nh sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị S khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, thừa nhận bị truy tố, t về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là đúng người, đúng tội, bị cáo sẽ ti p t c bồi thường số tiền đã chi m đoạt như yêu cầu của các bị hại.
Bị cáo Phạm Đức A thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị em t vai trò của bị cáo trong v án.
Bà Trần Thị T2 vắng mặt tại phiên tòa có quan điểm: do bị cáo Nguyễn Thị S và chồng là Phạm Đức A có hành vi lừa đảo để chi m đoạt của vợ, chồng bà hiện tại còn lại số tiền là 700.000.000đ (bảy trăm triệu đồng), chị T2 đề nghị S và Đức A phải trả lại số tiền nêu trên và in giảm nhẹ h nh phạt cho S và Đức A.
Ông Vũ Đức T3 có ý ki n: do bị cáo Nguyễn Thị S và chồng là Phạm Đức A có hành vi lừa đảo để chi m đoạt của ng T3 với tổng số tiền là 880.000.000đ (chín trăm tám mư i triệu đồng) nên đề nghị lý bị cáo đúng người, đúng tội và buộc bị cáo phải bồi thường theo quy định pháp luật.
Chị Nguyễn Thị Y và Nguyễn Thị Y1 vắng mặt có quan điểm: yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị S phải trả lại cho chị Y số tiền 580.000.000đ (năm trăm tám mư i triệu đồng), trả lại cho chị Y1 số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng) và đề nghị lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đưa ra các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, giữ nguyên quy t định truy tố và đề nghị Hội đồng t : tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị S, Phạm Đức A phạm “ ừa đảo chi m đoạt tài sản”, bị cáo Nguyễn Thị S còn phạm thêm tội “ àm giả tài liệu của c quan, tổ chức; s d ng tài liệu giả của c quan, tổ chức”;
Áp d ng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật H nh sự, phạt bị cáo Nguyễn Thị S từ 03 năm đ n 03 năm 06 tháng tù, về tội “ àm giả tài liệu của c quan, tổ chức; s d ng tài liệu giả của c quan, tổ chức”; 13 năm đ n 14 năm tù, về tội “ ừa đảo chi m đoạt tài sản”; tổng hợp h nh phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Thị S phải chấp hành h nh phạt chung là từ 16 năm đ n 17 năm 03 tháng tù.
Áp d ng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật H nh sự, phạt bị cáo Phạm Đức A từ 08 năm đ n 09 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Nguyễn Thị S và Phạm Đức A phải có nghĩa v trả cho chị Trần Thị T2 số tiền 679.800.000đồng; trả cho ng Vũ Đức T3 số tiền 880.000.000đ. Bị cáo Nguyễn Thị S phải trả lại cho chị Nguyễn Thị Y số tiền 580.000.000đồng; trả lại cho chị Nguyễn Thị Y1 số tiền 14.000.000đồng.
Về h nh phạt bổ sung: đề nghị kh ng áp d ng h nh phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng t
lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
uật sư T1 phát biểu quan điểm bào chữa cho cả hai bị cáo: uật sư kh ng đồng t nh với khoản tiền 143.500.000đ mà S và Đức A vay của bà T2 là khoản vay dân sự trước đó kh ng liên quan đ n hành vi lừa đảo của S. Đối với khoản vay của S với chị Y1, kh ng đủ c s để quy k t Soàn chi m đoạt tài sản của chị Y1, tuy S có đưa ra th ng tin gian dối là đặt cọc th a đất nhưng S kh ng có m c đích chi m đoạt v thời hạn vay là 1 tháng, S đã trả lãi cho Y1 và đã khất nợ và sau đó có Soàn vi phạm thanh toán có 3 ngày kh ng thực hiện nghĩa v trả nợ nhưng chị Y1 đã tố giác tại c quan điều tra và sau đó S đã trả cho Y1 nên S kh ng có ý thức chi m đoạt tiền của chị Y1.
Đối với Đức A kh ng đồng phạm với S trong việc chi m đoạt tài sản của bà T2 và ng T3. Tại đ n tố giác tội phạm của bà T2 kh ng có tên Đức A mà chỉ tố giác bị cáo S. Đức A chỉ tin vợ và kh ng bi t sổ đỏ là giả, Đức A kh ng cùng thực hiện hành vi phạm tội với S. Đề nghị trả hồ s điều tra bổ sung về hành vi phạm tội của Đức A.
uật sư B phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo S: việc truy tố bị cáo là đúng và các t nh ti t tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự là đúng. Tuy nhiên h nh phạt Viện kiểm sát đề nghị áp d ng đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội khi đang mang thai, khắc ph c một phần hậu qủa, bị cáo đang nu i 02 con nhỏ, có cháu dưới 36 tháng tuổi. Đề nghị áp d ng khoản 1 Điều 54 B HS, phạt bị cáo 10 năm về tội “ ừa đảo chi m đoạt tài sản”, 02 năm tù về tội “ àm giả tài liệu của c quan, tổ chức; s d ng tài liệu giả của c quan, tổ chức”.
uật sư D1 phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo Đức A: đồng ý với quan điểm của uật sư T1 đề nghị trả hồ s làm rõ hành vi của bị cáo Đức A.
Bị hại kh ng có ý ki n tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo S cho rằng việc vay của Y1 chỉ là vay lãi, sau khi Y1 chuyển tiền th bị cáo mới đưa ra th ng tin về th a đất để Y1 tin tư ng.
Bị cáo Đức A cho rằng bị cáo kh ng có m c đích, động c lừa đảo chi m đoạt tài sản.
Đại diện Viện kiểm sát đưa ra các căn cứ chứng minh đối đáp với các uật sư và giữ nguyên quan điểm đã đề nghị với Hội đồng t .
Bị cáo Đức A nói lời sau cùng: đề nghị em t các t nh ti t giảm nhẹ để giảm nhẹ h nh phạt cho cả hai vợ chồng bị cáo để sớm tr về với ã hội, bố bị cáo bị bệnh tâm thần. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của m nh chỉ do tin tư ng vợ, chứ kh ng có m c đích chi m đoạt. Bị cáo in lỗi các bị hại và đề nghị được trả dần khoản nợ cho các bị hại v hiện tại kh ng có khả năng chi trả.
Bị cáo S in lỗi bị hại và in giảm nhẹ h nh phạt để về sớm tr về chăm sóc các con, lao động trả tiền cho các bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quy t định tố t ng của C quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, tr nh tự, thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng H nh sự. Bị cáo; bị hại kh ng có ý ki n hoặc khi u nại khác về hành vi, quy t định của C quan ti n hành tố t ng, người ti n hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quy t định tố t ng của C quan ti n hành tố t ng, người ti n hành tố t ng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: trong quá tr nh điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của m nh như nội dung v án đã nêu trên. ời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại.
Đối với khoản vay của S với chị Nguyễn Thị Y1: tại c quan điều tra, S khai rõ do cần tiền để trả nợ nên nói dối chị Y1 vợ chồng S đang s hữu th a đất tại khu T, phường H, thành phố H để Y1 tin tư ng cho vay (B 1918-1919; 1939-1940; 1946-1947). Do đó, sau khi S nói dối và giao giấy chứng nhận quyền s d ng đất giả cho chị Y1 và chị Y1 tin tư ng giao tiền cho S, thời điểm đó tội phạm đã hoàn thành nên có đủ căn cứ ác định S đã phạm vào tội lừa đảo chi m đoạt tài sản.
Đối với Phạm Đức A thừa nhận có hành vi cùng với Nguyễn Thị S lừa đảo chi m đoạt tài sản của bà Trần Thị T2 và kh ng thừa nhận có hành vi giúp sức cho Nguyễn Thị S đối với việc chi m đoạt tiền của ng Vũ Đức T3. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của Đức A và S tại c quan điều tra thể hiện cả hai đều thừa nhận trước khi hỏi ng T3 vay tiền th S và Đức A đã trao đổi về việc sẽ dùng sổ đỏ (GCNQSDĐ) sau này sẽ làm đối với th a đất trống h n 100m2 bên cạnh nhà để th chấp cho ng T3 (lời khai của Phạm Đức A tại các Bút l c 673-674; 676-677), mặc dù nhận thức rõ cả Đức A và S hiện tại kh ng có th a đất nào tại thành phố H được đứng tên chủ s hữu nhưng vẫn đưa ra th ng tin để ng T3 tin tư ng và chi m đoạt số tiền đã vay; lời khai của ng Vũ Đức T3 về việc đầu tháng 5/2022 S có vay tiền của ng T3 và hữa hẹn sẽ th chấp bằng giấy chứng nhận quyển s d ng đất (Bút l c 661-662; 2446-2447); lời khai của người làm chứng Trần Văn T5 về việc chứng ki n ng Vũ Đức T3 giao tiền cho Nguyễn Thị S và Phạm Đức A và ng T3 yêu cầu khi S và Đức A vay phải có sổ đỏ th chấp vào tháng 5/2022 (bút l c 2468-2469). Do đó, đủ căn cứ ác định Phạm Đức A có hành vi giúp cho Nguyễn Thị S chi m đoạt của ng Vũ Đức T3 số tiền 880.000.000đồng.
Đối với việc vay tiền vợ chồng bà T2 của S và Đức A: khi vay tiền của bà T2 vào thời điểm cuối năm 2021, đầu năm 2022 cả hai vợ chồng S và Đức A đều thống nhất, đồng ý vay. Khi S nói với Đức A vay tiền của bà T2 và bà T2 yêu cầu phải có tài sản th chấp, làm tin, Đức A nhận thức rõ việc cả hai vợ chồng kh ng s hữu th a đất nào nhưng vẫn đồng ý với S và nói th chấp đất để vay tiền của vợ chồng bà T2. Trong quá tr nh điều tra Đức A khẳng định là có đưa bà T2 đi em th a đất thuộc s hữu của vợ chồng Đức A v bà T2. Do đó, đủ căn cứ ác định hành vi của Đức A đồng phạm với S, với vai trò giúp sức trong việc chi m đoạt tiền của bà Trần Thị T2.
Đối với số tiền vay 200.000.000 đồng của bà Trần Thị T2, do số tiền này là khoản tiền vay trước khi các bị cáo đưa ra th ng tin gian dối và giao GCNQSDĐ để chi m đoạt của bà T2, nên khoản vay này chỉ là giao dịch dân sự, các bên đã thanh toán và ác nhận hiện tại chỉ còn lại 143.500.000đồng, nên t thấy, kh ng có căn cứ ác định số tiền này là số tiền chi m đoạt của các bị cáo đối với bà Trần Thị T2.
Do đó, Hội đồng t chấp nhận một phần đề nghị của luật sư T1 về việc ác định số tiền vay 143.500.000 đồng của S và Đức A đối với bà Trần Thị T2 là giao dịch dân sự và kh ng chấp nhận đề nghị trả hồ s của luật sư T1 và luật sư D1.
Từ những căn cứ trên, Hội đồng t có đủ c s để k t luận:
Từ tháng 01/2022 đ n tháng 6/2022, trên địa bàn thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Thị S, Phạm Đức A có hành vi dùng lời nói gian dối có nhà đất làm tài sản th chấp để người bị hại là vợ chồng bà Trần Thị T2, ng Vũ Đức T3 tin tư ng giao tiền cho vợ chồng S - Đức A dưới h nh thức vay tiền trả lãi. Trong đó vợ chồng S - Đức A chi m đoạt của bà Trần Thị T2 số tiền 800.000.000đồng; chi m đoạt của ng Vũ Đức T3 số tiền 880.000.000đồng.
Khoảng tháng 8/2022 đ n tháng 10/2022, trên địa bàn thành phố H, Nguyễn Thị S có hành vi dùng lời nói gian dối rủ Nguyễn Thị Y góp vốn với Soàn để đầu tư mua sắm các vật tư thi t bị s a chữa thay th cho C ng ty cổ phần N1 - chồng S là Phạm Đức A làm việc. Khi mua bán sẽ kênh được giá chênh lệch và hư ng phần trăm hoa hồng, chia lợi nhuận cao theo thỏa thuận, chi m đoạt của chị Y tổng số tiền 700.000.000đồng;
Ngày 27/8/2022, Nguyễn Thị S có hành vi dùng lời nói gian dối đối với chị Nguyễn Thị Y1, là vợ chồng có nhà đất làm tài sản th chấp và giao cho chị Y1 01 GCNQSDĐ giả, vi t Hợp đồng nhận đặt cọc bán 01 th a đất cho chị Y1, để chị Y1 tin tư ng S có tài sản thật để bảo đảm, đồng ý giao tiền cho S 200.000.000đồng, dưới h nh thức vay tiền trả lãi, S đã chi m đoạt của chị Y1 số tiền 200.000.000đồng.
Tổng cộng số tiền Nguyễn Thị S đã chi m đoạt của các bị hại Trần Thị T2, Vũ Đức T3, Nguyễn Thị Y và Nguyễn Thị Y1 là 2.580.500.000đồng. Sau khi nhận tiền, S dùng một phần nhỏ “trả lãi” và gốc để các bị hại tin tư ng nghĩ Soàn đang hoạt động kinh doanh tốt, kh ng đòi tiền Soàn. Trong đó, trả cho bà Trần Thị T2 90.700.000đồng và 170.000.000đồng, còn chi m đoạt 709.800.000.000đồng; trả cho Nguyễn Thị Y 120.000.000đồng, còn chi m đoạt 580.000.000đồng, trả cho chị Y1 số tiền “gốc và lãi” là 186.000.000 đồng, còn chi m đoạt 14.000.000 đồng. Số tiền còn lại S dùng chi tiêu m c đích cá nhân và trả nợ h t.
Tổng số tiền Phạm Đức A giúp sức cho Nguyễn Thị S chi m đoạt của bà Trần Thị T2 và ng Vũ Đức T3 là 1.680.000.000đồng.
Ngoài ra, từ khoảng tháng 02/2022 đ n tháng 9/2022, Nguyễn Thị S còn có hành vi cung cấp th ng tin cá nhân và địa chỉ một số th a đất trên địa bàn thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, đặt của người kh ng quen bi t có tài khoản zalo “ ý Ngọc 1” làm 04 GCNQSDĐ giả mang tên vợ chồng Nguyễn Thị S - Phạm Đức A. Sau đó đưa: 02 GCNQSDĐ giả cho bà Trần Thị T2, để vợ chồng bà T2 tin tư ng cho vợ chồng S - Đức A vay tổng số tiền 800.000.000đồng; Đưa 01 GCNQSDĐ giả cho chị Nguyễn Thị Y1 để làm tin, vi t hợp đồng nhận đặt cọc bán đất để chị Y1 tin tư ng là Soàn có tài sản đảm bảo, cho S2 vay 200.000.000đồng; Đưa 01 GCNQSDĐ giả cho ng Vũ Đức T3 để làm tin, để ng T3 tin tư ng là vợ chồng S có tài sản th chấp khoản vay, kh ng thúc gi c đòi tiền vợ chồng S.
Hành vi của các bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho ã hội đặc biệt nghiêm trọng; cả hai bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm h nh sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị S đã âm phạm đ n hoạt động đúng đắn và uy tín của c quan Nhà nước trong quản lý hành chính. Ngoài ra hành vi của Nguyễn Thị S và Phạm Đức A còn âm phạm đ n quyền s hữu tài sản của c ng dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hư ng đ n trật tự trị an ã hội. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị S về các tội “ àm giả tài liệu của c quan, tổ chức; s d ng tài liệu giả của c quan, tổ chức” và tội “ ừa đảo chi m đoạt tài sản”; truy tố bị cáo Phạm Đức A tội “ ừa đảo chi m đoạt tài sản” là có căn cứ theo quy định pháp luật. Do vậy, những hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị S đã phạm vào tội “S d ng tài liệu giả của c quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 và tội “ ừa đảo chi m đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật H nh sự; hành vi bị cáo Phạm Đức A đã phạm vào tội “ ừa đảo chi m đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật H nh sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được lý nghiêm theo quy định của pháp luật để đảm bảo m c đích trừng trị, giáo d c đối với bị cáo và phòng ngừa trong c ng tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
X t vai trò của các bị cáo: Đối với tội “ ừa đảo chi m đoạt tài sản”, Nguyễn Thị S và Phạm Đức A thực hiện hành vi phạm tội với tính chất đồng phạm, trong đó Nguyễn Thị S là người gặp gỡ và đứng ra trao đổi trực ti p với các bị hại sau đó s d ng tiền chi m đoạt nên có vai trò cao h n Phạm Đức A, Phạm Đức A với vai trò là người giúp sức cho bị cáo S.
Đối với tội “ àm giả, s d ng tài liệu giả của c quan tổ chức” bị cáo Nguyễn Thị S thực hiện hành vi phạm tội độc lập nên phải chịu trách nhiệm h nh sự đối với hành vi của m nh.
Về t nh ti t tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự:
T nh ti t tăng nặng trách nhiệm h nh sự: cả hai bị cáo đã nhiều lần có hành vi gian dối để thực hiện chi m đoạt tài sản của nhiều bị hại nên phải chịu t nh ti t tăng nặng trách nhiệm h nh sự “phạm tội 02 lần tr lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật H nh sự.
T nh ti t giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự: trong quá tr nh điều tra và tại phiên toà các bị cáo c bản đều thành kh n khai báo; bị cáo Nguyễn Thị S phạm tội khi đang mang thai. V vậy, bị cáo Nguyễn Thị S được áp d ng các t nh ti t giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự theo quy định tại điểm n, s khoản 1Điều 51 của Bộ luật H nh sự; bị cáo Phạm Đức A được hư ng t nh ti t giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật H nh sự. Ngoài ra trong quá tr nh chu n bị t , bà Trần Thị T2 g i giấy ác nhận về việc Nguyễn Thị S và Phạm Đức A đã trả ti p cho bà T2 tổng số tiền 173.000.000đ (một trăm bảy mư i ba triệu đồng) và S còn trả “lãi” cho bà T2 số tiền 90.700.000đồng, bà T2 in giảm nhẹ h nh phạt cho S và Đức A, do đó em t cho hai bị cáo được hư ng thêm t nh ti t giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh sự.
Về lý vật chứng: Đối với vật chứng trong v án là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi thu của Phạm Đức A và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno7 + 01 sim. X t thấy, chi c điện thoại di động nhãn hiệu OPPO có s d ng vào việc phạm tội nên tịch thu, sung nộp ngân sách Nhà nước; trả lại cho bị cáo điện thoại di động nhãn hiệu Redmi. Đối với các sim điện thoại kh ng còn giá trị s d ng nên tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự:
Các bị hại đều có yêu cầu đề nghị bị cáo Nguyễn Thị S và Phạm Đức A phải bồi thường, trả lại số tiền đã chi m đoạt c thể như sau: Bà Trần Thị T2 đề nghị S và Đức A trả lại số tiền 700.000.000đ (Bảy trăm triệu đồng). Tuy nhiên do bị cáo S đã trả cho bà T2 số tiền 173.000.000đồng và được trừ đi số tiền 143.500.000đ là giao dịch dân sự. Do đó buộc các bị cáo phải bồi thường cho bà T2 số tiền 536.300.000 đồng; ng Vũ Đức T3 đề nghị S và Đức A trả lại số tiền 880.000.000đ (tám trăm tám mư i triệu đồng); chị Nguyễn Thị Y đề nghị Soàn trả lại số tiền 580.000.000đ (năm trăm tám mư i triệu đồng); chị Nguyễn Thị Y1 đề nghị Soàn trả lại số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng). Bị cáo Nguyễn Thị S và Phạm Đức A chấp nhận trả lại theo yêu cầu của các bị hại, nên buộc các bị cáo phải trả lại cho các bị hại số tiền đã chi m đoạt nêu trên.
Về h nh phạt bổ sung: t thấy các bị cáo là vợ chồng, có con còn nhỏ, thu nhập kh ng ổn định nên Hội đồng t kh ng áp d ng h nh phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí h nh sự s th m và án phí dân sự theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
iên quan trong v án:
Việc làm giả các Giấy chứng nhận quyền s d ng đất của Nguyễn Thị S, S liên hệ thực hiện độc lập, kh ng liên quan đ n Phạm Đức A, nên kh ng có căn cứ lý đối với Phạm Đức A.
Đối tượng nhận làm giả Giấy chứng nhận quyền s d ng đất cho Nguyễn Thị S, theo S khai liên hệ với tài khoản kh ng rõ lai lịch, địa chỉ trên mạng zalo tài khoản “Nguyen N”, chưa đủ c s ác minh làm rõ. C quan Cảnh sát điều tra tách v án h nh sự: “ àm giả tài liệu của c quan, tổ chức” để ti p t c điều tra ác minh, làm rõ lý theo quy định của pháp luật.
Bà Nguyễn Thị T là mẹ chồng S, khi bị hại bà T2, ng B1 phát hiện, bi t hành vi của S làm giả Giấy chứng nhận quyền s d ng đất để th chấp vay, chi m đoạt tiền của ng bà, đã nói cho bà T và bà T hỏi S, S thừa nhận, th bà T mới bi t. Do vậy, kh ng có căn cứ ác định bà T đồng phạm với Nguyễn Thị S nên có căn cứ lý.
Đối với việc Nguyễn Thị S vay ng Vũ Đức T3 tổng số tiền 750.000.000đồng; S vay chị Nguyễn Thị Y1 tổng số tiền 2.080.000.000đồng, còn nợ lại 454.000.000 đồng là giao dịch dân sự, nên kh ng em t giải quy t trong v án này.
Chị Nguyễn Thị Y1 có hành vi cho Nguyễn Thị S vay 200.000.000đồng, với mức lãi suất 3.000đồng/01 triệu/01 ngày. T6 lãi 02 tháng tổng số tiền 36.000.000 đồng, thu lời bất chính 29.424.658đồng, chưa đ n mức lý h nh sự. C quan Cảnh sát điều tra đã chuyển C ng an tỉnh lý hành chính nên kh ng em t
Nguyễn Thị S khai trong khoản vay ng Vũ Đức T3 650.000.000đồng, có khoản vay với lãi suất lên đ n 10.000đồng/01 triệu/01 ngày, nhưng ngoài lời khai S kh ng có tài liệu g khác cung cấp, nên kh ng có căn cứ em t.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị S phạm tội “ ừa đảo chi m đoạt tài sản” và tội “ àm giả tài liệu của c quan tổ chức; s d ng tài liệu giả của c quan, tổ chức”. Bị cáo Phạm Đức A phạm tội “ ừa đảo chi m đoạt tài sản”.
Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật H nh sự;
X phạt bị cáo Nguyễn Thị S: 12 (mười hai) năm tù, về tội “ ừa đảo chi m đoạt tài sản”; 03 (ba) năm tù về tội “ àm giả tài liệu của c quan tổ chức; s d ng tài liệu giả của c quan, tổ chức”. Tổng hợp h nh phạt, buộc bị cáo Nguyễn Thị S phải chấp hành h nh phạt chung của hai tội là 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật H nh sự; phạt bị cáo Phạm Đức A 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 06/9/2024.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật H nh sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố t ng H nh sự:
Tịch thu, sung nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO; trả lại bị cáo Phạm Đức A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi;
Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại.
T nh trạng vật chứng theo như Biên bản giao nhận vật chứng số 46 ngày 03/12/2024 giữa C c Thi hành án Dân sự tỉnh Quảng Ninh với C quan Cảnh sát điều tra C ng an tỉnh Q.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật H nh sự; Điều 584; Điều 589 của Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Thị S và Phạm Đức A mỗi bị cáo phải có nghĩa v trả lại 1/2 giá trị trong tổng số tiền đã chi m đoạt của bà T2 là 536.300.000 đồng; ng Vũ Đức T3 là 880.000.000đ (tám trăm tám mư i triệu đồng), c thể như sau: mỗi bị cáo phải trả lại cho bà Trần Thị T2 số tiền 268.150.000đ (Hai trăm sáu mư i tám triệu một trăm năm mư i ngh n đồng); mỗi bị cáo phải trả lại cho ng Vũ Đức T3 số tiền 440.000.000đ (Bốn trăm bốn mư i triệu đồng);
Bị cáo Nguyễn Thị S phải trả lại cho chị Nguyễn Thị Y số tiền 580.000.000đ (Năm trăm tám mư i triệu đồng); trả lại cho chị Nguyễn Thị Y1 số tiền 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đ n yêu cầu thi hành án, cho đ n khi thi hành án ong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 uật thi hành án dân sự, th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 uật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 uật thi hành án dân sự.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố t ng H nh sự; Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Nguyễn Thị S, Phạm Đức A mỗi bị cáo có nghĩa v nộp 200.000đ (Hai trăm ngh n đồng) án phí h nh sự s th m. Bị cáo Nguyễn Thị S phải nộp 51.064.500đ (Năm mư i mốt triệu kh ng trăm sáu mư i bốn ngh n năm trăm đồng) án phí dân sự; bị cáo Phạm Đức A phải nộp 32.326.000đ (Ba mư i hai triệu ba trăm hai mư i sáu ngh n đồng chẵn) án phí dân sự. Căn cứ vào khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố t ng h nh sự: bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án s th m; Bị hại vắng mặt có quyền có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm y t bản án.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - C quan CSĐT CA tỉnh Quảng Ninh; - Phòng hồ s nghiệp v (PV06) C ng an tỉnh Quảng Ninh; - C c THADS tỉnh Quảng Ninh; - Trại tạm giam CA tỉnh Quảng Ninh; - Bị cáo; bị hại; người bào chữa; - ưu hồ s , VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Hải Toản |