vanban.org

Bản án 37/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 25/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vàng A S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vàng A S 02 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 17/8/2025. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A S - Sử dụng trái phép chất ma tuý 256a BLHS - phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vàng A S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HS-ST
Ngày 25 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Giang Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Kim Hoàn và ông Hoàng Kim Chi

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 6 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo

Vàng A S (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 07/4/1975 tại tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn Ú, xã C, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 01/12 Dân tộc: Giáy; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vàng A Ý và bà Lù Thị L; Có vợ là Hoàng Thị L1 và 02 con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giam ngày 17/8/2025, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh L. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vàng A S là người nghiện chất ma tuý đang điều trị cai nghiện ma tuý tự nguyện bằng thuốc thay thế Methadone tại Bệnh viện Đ, tỉnh Lào Cai. Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 13/8/2025 Công an xã C, tỉnh Lào Cai yêu cầu Vàng A S đến trụ sở Công an xã để kiểm tra, xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể. Kết quả kiểm tra Vàng A S dương tính với chất ma tuý Methamphetamine. Tại cơ quan công an Vàng A S khai: Khoảng 10 giờ ngày 10/8/2025, S liên hệ với một người đàn ông tên Q để mua hồng phiến. Người này hẹn Sáng giao ma tuý tại gầm cầu chui IC19 cao tốc Nội Bài - Lào Cai thuộc thôn G, xã C, tỉnh Lào Cai. Khoảng 14 giờ cùng ngày S đi bộ một mình đến điểm hẹn gặp Q mua 01 viên ma tuý 1 hồng phiến với giá 100.000đ. Sau khi mua được ma tuý, S cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi về nhà. Đến ngày 12/8/2025, sau khi được Bệnh viện Đ xét nghiệm ma tuý hàng tháng theo quy định xong, khoảng 16 giờ Sáng đi vào khu vực nhà vệ sinh của gia đình lấy viên ma tuý hồng phiến đặt trên lớp giấy bạc rồi dùng bật lửa ga đốt dưới giấy bạc và sử dụng ma tuý bằng hình thức hít.

Tại kết luận giám định số 1321/GĐMT ngày 16/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Trong mẫu nước tiểu thu của Vàng A S gửi đến giám định có chất ma tuý, loại Methamphetamine và M. Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKSBT ngày 09/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 Lào Cai truy tố bị cáo Vàng A S về tội "Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Vàng A S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không đề nghị gì. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị tuyên bố bị cáo Vàng A S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vàng A S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ chiếc bật lửa ga. Đề nghị tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với quy định của pháp luật.

. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Vàng A S khai nhận mặc dù đang trong thời gian cai nghiện ma tuý bằng thuốc thay thế Methadone tại Bệnh viện Đ nhưng ngày 12/8/2025 bị cáo đã sử dụng trái phép chất ma tuý Methamphetamine bằng hình thức hít. Lời khai của bị cáo phù hợp với kết quả giám định chất ma tuý trong nước tiểu. Do đó hành của bị cáo đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự.

. Bị cáo Vàng A S là người có năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật song bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện. Bị cáo hiểu rất rõ tác hại của ma tuý nhưng vẫn tìm cách sử dụng để thoả mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây hại tới sức khoẻ của 2 bản thân và xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, vì vậy phải xử lý nghiêm minh để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bi cáo có tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và thành khẩn khai báo theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Các vấn đề có liên quan trong vụ án: Đối với người đàn ông tên Q theo bị cáo khai là người đã bán ma tuý cho bị cáo ngày 10/8/2025, quá trình điều tra không xác định được căn cước lai lịch của người này nên cơ quan điều tra không xử lý.

. Vật chứng của vụ án: Trong quá trình khám xét nơi ở của bị cáo, cơ quan điều tra thu giữ 01 chiếc bật lửa ga mà bị cáo đã sử dụng để hít ma tuý, xét thấy cần tịch thu tiêu huỷ.

. Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo: Tại phiên toà bị cáo không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Vàng A S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Vàng A S 02 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 17/8/2025.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ vật chứng: 01 bật lửa gas màu tím, bên trên nắp sắtt có chữ “H-VIET”.

Vật chứng đã được bàn giao cho Phòng thi hành án dân sự Khu vực 6 Lào Cai theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/9/2025.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Vàng A S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 3 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ