vanban.org

Bản án 37/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Huế, TP. Huế Tuyên án 03/06/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T và đp phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đê tịch thu; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYÊN PHÚ LỘC
THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HS-ST
Ngay 03-06-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYÊN PHÚ LỘC, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Nhân Phái - Nguyên la Giáo viên Trường Trung học cơ sở Lộc Trì, huyện Phú Lộc, thanh phố Huế

2. Ông Huỳnh Văn Vy - Nguyên la Cán bộ của phòng Y tế huyện Phú Lộc, thanh phố Huế.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoan Văn Thái, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, thanh phố Huế.

- Đai diên Viên kiểm sát nhân dân huyên Phú Lộc, thành phố Huê tham gia phiên tòa: Ông Hoang Trọng Thọ - Kiêm sát viên.

Ngay 03 tháng 06 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, thanh phố Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2025/TLST-HS ngay 29 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HS ngay 23 tháng 05 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T (tên gọi khác: Cún); sinh ngay 14 tháng 4 năm 2007, tại thanh phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: TT PL, huyện PL, thanh phố Huế; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: 046207002xxx, cấp ngay: 27/12/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hanh chính về trật tự xã hội; con ông: Nguyễn Văn Chín, sinh năm 1985 va ba Bùi Thị Ngọc Nga (đã chết); gia đình có 4 anh chị em, bị cáo la con thứ ba; vợ con: Chưa có;

Quá trình nhân thân: Lúc nhỏ ở với gia đình, học văn hoá đến lớp 7 thì nghỉ học ở nha. Ngay 18/4/2023, bị Ủy ban nhân dân thị trấn Phú Lộc, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, nay la thanh phố Huế ra Quyết định xử phạt vi phạm hanh chính số: 119/QĐ-XPHC với hình thức “Cảnh cáo” về hanh vi trộm cắp tai sản; ngay 17/4/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc xử phạt 04 tháng tù về “Trộm cắp tai sản” theo bản án số 22/2024/HS-ST (đã chấp hanh xong ngay 28/5/2024).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngay 10/01/2025 cho đến nay. Có mặt.

2. Nguyễn Minh T2 (tên gọi khác: Không); sinh ngay 24 tháng 01 năm 2003 tại thanh phố Huế; nơi cư trú: TT PL, huyện PL, thanh phố Huế; nghề nghiệp: Thợ may; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: 046203008525, cấp ngay: 07/8/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hanh chính về trật tự xã hội; họ tên cha: Không xác định được va con ba Nguyễn Thị Bông (đã chết); gia đình có 03 anh chị em, bị cáo la con thứ ba; vợ con: Chưa có;

Quá trình nhân thân: Lúc nhỏ ở với gia đình, học văn hoá đến lớp 6 thì nghỉ học ở nha va lam nghề thợ may. Ngay 18/4/2023, bị Ủy ban nhân dân thị trấn Phú Lộc, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, nay la thanh phố Huế ra Quyết định xử phạt vi phạm hanh chính số: 118/QĐ-XPHC với số tiền la 2.000.000 đồng về hanh vi trộm cắp tai sản (đã chấp hanh nộp phạt ngay 10/10/2023).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngay 10/01/2025 cho đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: Ba Phạm Thị Thùy Trang - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nha nước thanh phố Huế. Có mặt.

- Bị hại:

1. Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng va cơ khí Tịnh Nhân; địa chỉ: Số 19 Thuận Hóa, phường Phú Bai, thị xã Hương Thủy, thanh phố Huế;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Khắc Tịnh, chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Đại Liên Thanh, sinh năm 1989; địa chỉ: Số 19 Thuận Hóa, phường Phú Bai, thị xã Hương Thủy, thanh phố Huế (theo giấy ủy quyền ngay 05/02/2024). Vắng mặt.

2. Ba Nguyễn Thị Gái, sinh năm 1961; nơi cư trú: Tổ 3, phường Thủy Châu, thị xã Hương Thủy, thanh phố Huế; nơi ở hiện tại: Thôn Cao Đôi Xã, xã Lộc Trì, huyện Phú Lộc, thanh phố Huế. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Võ Xuân Giáp, sinh năm 2009; nơi cư trú: Tổ dân phố 5, thị trấn Phú Lộc, huyện Phú Lộc, thanh phố Huế. Có mặt.

2. Ông Võ Xuân Tứ, sinh năm: 1965 va ba Trần Thị Cảnh, sinh năm: 1974 (la cha, mẹ của anh Giáp); đều trú tại: Tổ dân phố 5, thị trấn Phú Lộc, huyện Phú Lộc, thanh phố Huế; (Đồng thời la người đại diện hợp pháp của anh Giáp). Ông Tứ có mặt, ba Cảnh vắng mặt.

3. Ba Đặng Thị Thanh, sinh năm 1964; nơi cư trú: Số 09 Lê Hồng Sơn, phường Xuân Phú, quận Thuận Hóa, thanh phố Huế. Vắng mặt.

4. Ba Trần Thị Yến, sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn Xuân Lai, xã Lộc An, huyện Phú Lộc, thanh phố Huế. Vắng mặt.

5. Chị Nguyễn Thị Nga, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ dân phố 5, thị trấn Phú Lộc, huyện Phú Lộc, thanh phố Huế. Vắng mặt.

6. Anh Phan Thanh Hoai, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Cao Đôi Xã, xã Lộc Trì, huyện Phú Lộc, thanh phố Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tai liệu có trong hồ sơ vụ án va diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngay 29/12/2024 đến ngay 05/01/2025, tại địa ban xã Lộc Trì, huyện Phú Lộc, thanh phố Huế; Nguyễn Văn T va đồng phạm đã thực hiện hanh vi trộm tai sản của người khác, cụ thê:

- Lần thứ nhất: Khoảng 00 giờ 30 phút ngay 29/12/2024, Nguyễn Văn T rủ Nguyễn Minh T2 đi lấy trộm dây điện ở công trình đang thi công trụ sở Công an xã Lộc Trì, huyện Phú Lộc, thanh phố Huế do Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng va cơ khí Tịnh Nhân thi công, T2 đồng ý. T2 điều khiên xe mô tô biên số 75K1-22309 chở T ngồi phía sau; khi đến gần khu vực công trình thì T2 thu giấu xe mô tô va cùng T lén lút đột nhập vao bên trong công trình. T nhặt 01 cây kéo bằng kim loại, 01 bao tải (loại 50 kg, bên trong công trình), sau đó dùng kéo cắt dây điện tại 05 phòng lam việc rồi đưa cho T2 bỏ vao bao tải. Sau khi thấy bao tải đã chứa đầy dây điện thì T bỏ lại cây kéo tại công trình va cùng T2 đưa đến khu vực Nghĩa trang liệt sỹ huyện Phú Lộc ở TT PL, huyện PL, thanh phố Huế cùng nhau dùng lửa đốt cháy phần vỏ dây bằng nhựa đê lấy lõi dây bằng đồng bên trong rồi đưa về nha của T thu giấu.

Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngay, T, T2 đưa lõi dây điện bằng đồng đến cửa hang thu mua phế liệu của ba Nguyễn Thị bán được số tiền 1.600.000 đồng. T va T2 chia nhau mỗi người số tiền 800.000 đồng đê sử dụng cá nhân.

- Lần thứ hai: Khoảng 01 giờ 30 phút ngay 05/01/2025, Nguyễn Văn T rủ Võ Xuân Giáp cùng đi tìm nha dân sở hở đê lấy trộm tai sản, Giáp đồng ý. T điều khiên xe mô tô biên số: 75K1-223.09 chở Giáp ngồi phía sau đến cửa hang buôn bán phế liệu của ba Nguyễn Thị Gái tại thôn Cao Đôi Xã, xã Lộc Trì, huyện Phú Lộc, thanh phố Huế. Tại đây, T, Giáp thống nhất đột nhập vao cửa hang của ba Gái đê lấy trộm tai sản. Giáp đứng bên ngoai cảnh giới, T2 leo tường rao phía sau đột nhập vao bên trong cửa hang, sau đó đi vao khu vực phòng chứa đồ phế liệu lục soát lấy trộm số tiền 22.400.000 đồng, 01 sợi dây chuyền vang, 01 đôi hoa tai vang.

Sau khi lấy trộm được tai sản, T, Giáp cùng nhau rời khỏi hiện trường. Trên đường đi thì T gặp Nguyễn Minh T2 nên T nói với T2 la cùng đi đến Nghĩa trang liệt sỹ huyện Phú Lộc thì T sẽ cho tiền, T2 đồng ý. Khi đến khu vực nghĩa trang, T nói cho T2 biết la mình cùng Giáp vừa lấy trộm được tiền va vang, đồng thời đưa số tai sản lấy trộm được cho T2 xem. T lấy số tiền 2.000.000 đồng từ số tiền lấy trộm được va cho T2 sử dụng cá nhân.

Đến khoảng 07 giờ 00 sáng cùng ngay, T, T2 va Giáp ban bạc cùng nhau bán số vang lấy trộm được đê chia nhau sử dụng. T điều khiên xe mô tô biên số 75K1-223.09 chở T2, Giáp đến khu vực chợ Lộc An, huyện Phú Lộc. Tại đây, T giao cho T2 01 đôi hoa tai vang va T2 đi vao cửa hang mua bán vang “Phước Yến” của ba Trần Thị Yến bán được số tiền 1.200.000 đồng va giao lại cho T.

Tiếp đó, T, T2 va Giáp cùng nhau đến của hang mua bán xe mô tô tại khu vực đường Nguyễn Khoa Chiêm, phường Thuận Hóa, thanh phố Huế (không xác định được tên tuổi, địa chỉ người bán xe) mua xe mô tô biên số 75B1-232.25 với số tiền 4.500.000 đồng nhằm mục đích cho T sử dụng. Sau đó, T chia cho Giáp số tiền 6.500.000 đồng, Giáp điều khiên xe mô tô biên số 75K1-223.09 đê đi về trước. T, T2 tiếp tục đến khu vực chợ Thần Phù, thị xã Hương Thủy, thanh phố Huế đê bán sợi dây chuyền vang. Tại đây, T đi vao cửa hang mua bán vang “Ngọc Thanh” của ba Đặng Thị Thanh bán sợi dây chuyền vang được số tiền 19.500.000 đồng, T chia cho T2 số tiền 2.000.000 đồng.

Sau khi bị mất trộm tai sản thì ba Nguyễn Thị Gái trình báo sự việc đến Cơ quan Công an va qua điều tra xác định sự việc trộm cắp tai sản như trên.

* Vật chứng thu giữ: Cơ quan điều tra đã thu giữ số tiền 29.250.000 đồng do Võ Xuân Giáp va Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh T2 giao nộp.

01 xe mô tô biên số 75K1-223.09, nhãn hiệu Yamaha Sirius; 01 xe mô tô biên số 75B1-232.25, nhãn hiệu Cicero; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biên số 75B1-232.25; 01 vỏ lon sữa hộp; 01 đĩa CD bên trong chứa dữ liệu Video ghi nhận diễn biến hanh vi Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh T2 bán sợi dây chuyền vang lấy trộm được tại cửa hang mua bán vang “Ngọc Thanh".

Ba Đặng Thị Thanh, ba Trần Thị Yến sau khi mua vang từ các bị cáo mang đến bán đã đem nấu lại, nên không thu hồi được.

Đối với số lõi dây điện bằng đồng ma các bị cáo đưa đến bán cho ba Nguyễn Thị Gái, ba Gái đã bán lại cho nha máy thu mua tại thanh phố Đa Nẵng nên không thu hồi được.

Đối với số tiền ma bị cáo Nguyễn Văn T chiếm hưởng còn lại trong vụ án, bị cáo đã sử dụng cá nhân hết.

* Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại số tiền 29.250.000 đồng; 01 vỏ lon hộp sữa cho ba Nguyễn Thị Gái.

Đối với xe mô tô biên số 75K1-22309, quá trình điều tra xác định phương tiện đứng tên đăng ký la chị Nguyễn Thị Nga. Trong quá trình sử dụng, chồng của chị Nga la anh Phan Thanh Hoai cho bị cáo Nguyễn Văn T mượn đê sử dụng. Xét thấy ba Nguyễn Thị Nga, anh Phan Thanh Hoai không biết bị cáo Nguyễn Văn T sử dụng xe mô tô biên số 75K1-22309 đê lam phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại phương tiện cho chủ sở hữu.

Đối với xe mô tô biên số 75B1-232.25, quá trình điều tra xác định phương tiện đứng tên đăng ký la anh Lê Văn Thiện. Trong quá trình sử dụng thì anh Thiện bán lại phương tiện cho người không quen biết (không xác định được tên tuổi, địa chỉ). Do vậy, cần tiếp tục được tạm giữ xe mô tô biên số 75B1-232.25 đê giải quyết theo vụ án.

* Tại bản Kết luận định giá tai sản số 10/KL-HĐĐG ngay 28/02/2025 của Hội đồng định giá tai sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Lộc đã kết luận: 01 sợi dây chuyền vang 458; loại 11k; dai 40cm; bản rộng 0,5cm; gắn tượng ngọc mau xanh; trọng lượng 5,9 chỉ; có giá trị 24.780.000 đồng; 01 đôi bông tai vang 458; loại 11k; tổng trọng lượng 0,3 chỉ; có giá trị 1.260.000 đồng. Tổng trị giá tai sản la: 26.040.000 đồng (Hai mươi sáu triệu không trăm bốn mươi ngan đồng).

* Tại bản Kết luận định giá tai sản số 11/KL-HĐĐG ngay 20/3/2025 của Hội đồng định giá tai sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Lộc đã kết luận: 500 mét dây điện loại CV 1.5 có giá trị 2.699.000 đồng; 600 mét dây điện loại CV 2.5 có giá trị 5.280.000 đồng; 700 mét dây điện loại CV 4.0 có giá trị: 9.323.000 đồng. Tổng trị giá tai sản la: 17.302.000 đồng (Mười bảy triệu ba trăm lẻ hai ngan đồng).

* Về trách nhiệm dân sự: Anh Võ Đại Liên Thanh đại diện theo ủy quyền của Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng va cơ khí Tịnh Nhân yêu cầu các bị cáo bồi thường về dân sự với số tiền: 17.302.000 đồng; ba Nguyễn Thị Gái yêu cầu bồi thường về dân sự với tổng số tiền: 19.190.000 đồng. Hiện các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh T2 va người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án la Võ Xuân Giáp chưa bồi thường về dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKSNĐ ngay 25/4/2025 của Viện kiêm sát nhân dân huyện Phú Lộc, thanh phố Huế truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tai sản” quy định tại điêm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Minh T2 về các tội “Trộm cắp tai sản” va tội “Tiêu thụ tai sản do người khác phạm tội ma có”. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiêm sát thực hanh quyền công tố phát biêu quan điêm luận tội giữ nguyên quyết định truy tố va đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự:

- Căn cứ điêm c khoản 2 Điều 173; điêm b, s khoản 1 Điều 51; điêm g khoản 1 Điều 52; Điều 91, khoản 1 Điều 101; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điêm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T2 từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

- Căn cứ khoản 1 Điều 323; điêm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T2 từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Minh T2, buộc bị cáo Nguyễn Minh T2 phải chấp hanh hình phạt chung của hai tội la từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về các tội “Trộm cắp tai sản” va “Tiêu thụ tai sản do người khác phạm tội ma có”.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đê tịch thu, nộp ngân sách nha nước đối với 01 (một) chiếc xe mô tô biên số 75B1-232.25, nhãn hiệu Cicero kèm 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biên số 75B1-232.25.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu bồi thường dân sự của các bị hại va công nhận sự thỏa thuận của các bị cáo va người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về bồi thường cho bị hại.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm; buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, người bao chữa trình bay lời bao chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: Hanh vi của bị cáo bị truy tố xét xử về tội “Trộm cắp tai sản” quy định tại điêm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự la đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng những T tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại một phần số tiền chiếm đoạt, thanh khẩn khai báo về hanh vi của mình nên được áp dụng T tiết giảm nhẹ điêm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên cần xem xét đến nguyên tắc xử lý đối với người chưa thanh niên phạm tội theo quy định tại Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự. Với những T tiết giảm nhẹ nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất ma đại diện Viện kiêm sát đề nghị.

Tại phiên tòa, các bị báo đã khai nhận toan bộ hanh vi phạm tội của mình, đồng ý với kết luận định giá tai sản của cơ quan chuyên môn va tội danh ma Viện kiêm sát đã truy tố theo như bản Cáo trạng va quan điêm luận tội. Bị cáo T đồng ý với lời bao chữa của người bao chữa, các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại va không có ý kiến tranh luận về hanh vi, tội danh, hình phạt va các vấn đề khác.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi va nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Võ Xuân Giáp va người đại diện của anh Giáp cung cấp lời khai như trong giai đoạn điều tra, truy tố; đồng ý với kết luận định giá tai sản của cơ quan chuyên môn, đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại va không có ý kiến tranh luận gì.

Nói lời sau cùng tại phiên tòa, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vao các tai liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quyết định, hanh vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố va xét xử các bị cáo, bị hại va người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về quyết định, hanh vi tố tụng của cơ quan tiến hanh tố tụng, người có thẩm quyền tiến hanh tố tụng. Các quyết định, hanh vi tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định. Do đó, các quyết định, hanh vi tố tụng của cơ quan tiến hanh tố tụng va người tiến hanh tố tụng la hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng trong vụ án la bị hại, người có quyền lợi va nghĩa vụ liên quan đến vụ án ba Đặng Thị Thanh, ba Trần Thị Yến, ba Trần Thị Cảnh, chị Nguyễn Thị Nga va anh Phan Thanh Hoai vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy người vắng mặt đã có có đầy đủ lời khai trong quá trình điều tra, không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hanh xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xét hanh vi của các bị cáo thấy rằng:

Từ ngay 29/12/2024 đến ngay 05/01/2025, tại địa ban xã Lộc Trì, huyện Phú Lộc, thanh phố Huế; Nguyễn Văn T va Nguyễn Minh T2 đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tai sản của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt của Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng va cơ khí Tịnh Nhân 1.800 mét dây điện các loại có tổng trị giá la 17.302.000 đồng (Mười bảy triệu ba trăm lẻ hai nghìn đồng); Nguyễn Văn T va Võ Xuân Giáp đã lén lút chiếm đoạt của ba Nguyễn Thị Gái số tiền la 22.400.000 đồng cùng một số trang sức bằng vang với tổng trị giá tai sản chiếm đoạt la 48.440.000đồng (Bốn mươi tám triệu bốn trăm bốn mươi ngan đồng).

Nguyễn Minh T2 biết rõ số tiền 22.400.000 đồng, 01 sợi dây chuyền vang, 01 đôi hoa tai vang la tai sản do Nguyễn Văn T phạm tội ma có nhưng T2 vẫn nhận từ T số tiền 2.000.000 đồng va cùng với T mang đi tiêu thụ 01 sợi dây chuyền vang, 01 đôi hoa tai vang. Như vậy, tổng trị giá tai sản Nguyễn Minh T2 đã tiêu thụ la: 1.260.000 đồng + 24.780.000 đồng + 2.000.000 đồng = 28.040.000 đồng (Hai mươi tám triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng), thu lợi bất chính số tiền 4.000.000 đồng.

Riêng Võ Xuân Giáp, sinh ngay 15 tháng 12 năm 2009 khi thực hiện hanh vi trộm cắp tai sản do mới 15 tuổi 22 ngay nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Với hanh vi va hậu quả, bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vao tội “Trộm cắp tai sản” theo quy định điêm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Minh T2 đã phạm vao tội “Trộm cắp tai sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự va tội “Tiêu thụ tai sản do người khác phạm tội ma có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiêm sát nhân dân huyện Phú Lộc, thanh phố Huế truy tố các bị cáo về tội danh va khung hình phạt nêu trên la có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét về tính chất hanh vi phạm tội của các bị cáo: Hanh vi phạm tội của các bị cáo la nguy hiêm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tai sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bản thân các bị cáo la người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết được hanh vi của mình bị pháp luật cấm nhưng xuất phát từ động cơ vụ lợi, muốn hưởng thụ trên thanh quả lao động của người khác nên đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu đê lén lút chiếm đoạt tai sản nhằm thu lợi bất chính, phục vụ nhu cầu bản thân, gây bức xúc, lo lắng cho nhân dân, ảnh hưởng xấu đến T hình an ninh, trật tự tại địa phương.

Về nhân thân, T tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đối với bị cáo Nguyễn Văn T:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Ngay 18/4/2023, bị Ủy ban nhân dân thị trấn Phú Lộc, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, nay la thanh phố Huế ra Quyết định xử phạt vi phạm hanh chính số: 119/QĐ-XPHC với hình thức “Cảnh cáo” về hanh vi trộm cắp tai sản;

- Về T tiết tăng nặng: Phạm vao T tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điêm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về T tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại một phần số tiền chiếm đoạt, thanh khẩn khai báo về hanh vi của mình, nên được áp dụng T tiết giảm nhẹ điêm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Minh T2:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Ngay 18/4/2023, bị Ủy ban nhân dân thị trấn Phú Lộc, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, nay la thanh phố Huế ra Quyết định xử phạt vi phạm hanh chính số: 118/QĐ-XPHC với số tiền la 2.000.000 đồng về hanh vi trộm cắp tai sản (đã chấp hanh nộp phạt ngay 10/10/2023);

- Về T tiết tăng nặng: Bị cáo không phạm vao T tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nao quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với cả 02 tội “Trộm cắp tai sản” va tội “Tiêu thụ tai sản do người khác phạm tội ma có”.

- Về T tiết giảm nhẹ:

+ Đối với tội “Trộm cắp tai sản” bị cáo thanh khẩn khai báo về hanh vi của mình nên được áp dụng T tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định điêm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

+ Đối với tội “Tiêu thụ tai sản do người khác phạm tội ma có” trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại một phần số tiền, thanh khẩn khai báo về hanh vi của mình nên được xem xét áp dụng các T tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điêm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét vị trí, vai trò của từng bị cáo trong vụ án, thấy rằng: Đây la vụ án đồng phạm, tính chất giản đơn, trong đó Nguyễn Văn T đóng vai trò la người khởi xướng, rủ rê va thực hiện hanh vi phạm tội cả hai lần trộm cắp tai sản. Nguyễn Minh T2 la người thực hanh giúp sức cho T. Võ Xuân Giáp la người giúp sức cho T thực hiện hanh vi trộm cắp tai sản.

Xét các căn cứ quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy:

Các bị cáo đều còn trẻ (thời điêm phạm tội, bị cáo Nguyễn Văn T chưa đủ 18 tuổi) nhưng các bị cáo đã có nhân thân xấu, không tu dưỡng, rèn luyện, tìm kiếm nghề nghiệp đê lao động, học tập, phát triên bản thân, trở thanh công dân có ích cho gia đình va xã hội. Mặc dù đã bị xử phạt hanh chính về hanh vi trộm cắp tai sản nhưng đê có tiền tiêu xai cá nhân, các bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện hanh vi trộm cắp tai sản. Bản thân bị cáo Nguyễn Văn T đã bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc xử phạt tù về hanh vi trộm cắp tai sản. Đối với bị cáo Nguyễn Minh T2 biết rõ tiền va tai sản bị cáo T cho va đưa đi bán la tai sản do bị cáo T va anh Giáp trộm cắp ma có nhưng bị cáo vẫn nhận đê đi bán cùng với bị cáo T va tiêu xai cá nhân. Bị cáo T2 la người đã trưởng thanh, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tiêu thụ tai sản do người khác phạm tội ma có la hanh vi vi phạm pháp luật. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo va răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, các bị cáo có nhiều T tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên cần xem xét đến nguyên tắc xử lý đối với người chưa thanh niên phạm tội khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công việc va thu nhập ổn định; các bị cáo đang bị tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung la phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với Võ Xuân Giáp, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tai sản” theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hanh chính đối với Giáp do đó, không có cơ sở đê xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh Võ Xuân Giáp.

Đối với ba Đặng Thị Thanh, ba Trần Thị Yến va ba Nguyễn Thị Gái không biết tai sản mình nhận mua la do các bị cáo trong vụ án phạm tội ma có nên không có căn cứ xem xét, xử lý về hanh vi tiêu thụ tai sản do người khác phạm tội ma có.

Đối với vợ chồng chị Nguyễn Thị Nga, anh Phan Thanh Hoai không biết Nguyễn Văn T sử dụng xe mô tô biên số 75K1-22309 thuộc sở hữu của mình đê lam phương tiện phạm tội nên không có căn cứ xem xét, xử lý.

Đối với người đan ông bán xe mô tô biên số 75B1-23225 cho các bị cáo trong vụ án, quá trình điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh lam rõ, khi có đủ căn cứ thì xem xét xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự:

- Đối với việc Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng va cơ khí Tịnh Nhân yêu cầu các bị cáo bồi thường về dân sự với số tiền: 17.302.000 đồng, quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T va Nguyễn Minh T2 không thỏa thuận được trách nhiệm bồi thường dân sự. Tại phiên tòa, các bị cáo đã thỏa thuận việc bồi thường cho Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng va cơ khí Tịnh Nhân như sau: Bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường số tiền 8.651.000 đồng; bị cáo Nguyễn Minh T2 bồi thường số tiền 8.651.000 đồng. Xét thấy, việc thỏa thuận giữa các bị cáo la tự nguyện, phù hợp nên cần được ghi nhận.

- Đối với việc ba Nguyễn Thị Gái yêu cầu bồi thường về dân sự với tổng số tiền: 19.190.000 đồng quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh T2 va người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Xuân Giáp không thỏa thuận được việc bồi thường. Tại phiên tòa, các bị cáo va anh Giáp thỏa thuận việc bồi thường cho ba Nguyễn Thị Gái như sau: Bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường số tiền 9.190.000 đồng; bị cáo Nguyễn Minh T2 bồi thường số tiền 5.000.000 đồng va người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Xuân Giáp bồi thường 5.000.000 đồng. Xét thấy, việc thỏa thuận giữa các bị cáo va người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan la tự nguyện, phù hợp nên cần được ghi nhận.

Đối với anh Võ Xuân Giáp hiện nay chưa thanh niên, chưa có tai sản đê bồi thường nên cha mẹ của anh giáp la ông Võ Xuân Tứ va ba Trần Thị Cảnh la người thực hiện bồi thường cho ba Nguyễn Thị Gái theo quy định tại khoản 2 Điều 586 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biên số 75B1-232.25, quá trình điều tra xác định phương tiện đứng tên đăng ký la anh Lê Văn Thiện. Trong quá trình sử dụng thì anh Thiện bán lại phương tiện cho người không quen biết (không xác định được tên tuổi, địa chỉ). Bị cáo T mua lại của một người đan ông không xác định được tên tuổi, địa chỉ từ tai sản do bị cáo phạm tội ma có va tại phiên tòa bị cáo không có yêu cầu nhận lại đối với tai sản nay. Hội đồng xét xử căn cứ vao Điều 47 Bộ luật Hình sự va khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đê tịch thu, nộp ngân sách nha nước đối với 01 (một) xe mô tô, biên số 75B1-23225, nhãn hiệu Cicero, mau đen (đã cũ, đã qua sử dụng; không kiêm tra chất lượng bên trong máy; xe không có phần yếm mang phía trên, hộp xích va kính chiếu hậu; bị rỉ rét ở nhiều bộ phận); 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biên số 75B1-23225, mang tên Lê Văn Thiện, số máy: FMH-061341, số khung: 022HV-061341.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T (tức Cún) phạm tội “Trộm cắp tai sản”.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T2 phạm tội “Trộm cắp tai sản” va tội “Tiêu thụ tai sản do người khác phạm tội ma có”.

2. Về trách nhiệm hình sự:

- Căn cứ điêm c khoản 2 Điều 173; điêm b, s khoản 1 Điều 51; điêm g khoản 1 Điều 52; Điều 91, khoản 1 Điều 101; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hanh hình phạt tù T từ ngay bắt tạm giam ngay 10/01/2025.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điêm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T2 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tai sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 323; điêm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T2 01 (một) năm tù về tội “Tiêu thụ tai sản do người khác phạm tội ma có”.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo Nguyễn Minh T2 phải chấp hanh hình phạt chung la 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hanh hình phạt tù tính từ ngay bắt tạm giam ngay 10/01/2025.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung la phạt tiền đối với các bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu, nộp ngân sách nha nước đối với:

01 (một) xe mô tô, biên số 75B1-23225, nhãn hiệu Cicero, mau đen (đã cũ, đã qua sử dụng; không kiêm tra chất lượng bên trong máy; xe không có phần yếm mang phía trên, hộp xích va kính chiếu hậu; bị rỉ rét ở nhiều bộ phận).

01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biên số 75B1-23225, mang tên Lê Văn Thiện, số máy: FMH-061341, số khung: 022HV-061341.

Vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản (STT 32) ngày 25 tháng 4 năm 2025 giữa Công an thành phố Huế và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lộc.

5. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự va các Điều 584, 585, 586 va 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuyên xử:

Công nhận sự thỏa thuận giữa các bị cáo Nguyễn Văn T va Nguyễn Minh T2 bồi thường cho Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng va cơ khí Tịnh Nhân số tiền 17.302.000 đồng (Mười bảy triệu ba trăm lẻ hai nghìn đồng), cụ thê: Nguyễn Văn T bồi thường số tiền 8.651.000 đồng; Nguyễn Minh T2 bồi thường số tiền 8.651.000 đồng.

Công nhận sự thỏa thuận giữa các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh T2 va người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Xuân Tứ va ba Trần Thị Cảnh (la cha, mẹ của anh Võ Xuân Giáp; la người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) bồi thường cho ba Nguyễn Thị Gái số tiền 19.190.000 đồng (Mười chín triệu một trăm chín mươi nghìn đồng), cụ thê: Nguyễn Văn T bồi thường số tiền 9.190.000 đồng; Nguyễn Minh T2 bồi thường số tiền 5.000.000 đồng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Xuân Tứ va ba Trần Thị Cảnh liên đới bồi thường số tiền 5.000.000 đồng.

Kê từ ngay bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hanh án có quyền chủ động ra quyết định thi hanh án) hoặc kê từ ngay có đơn yêu cầu thi hanh án của người được thi hanh án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hanh án) cho đến khi thi hanh án xong, bên phải thi hanh án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hanh án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự va khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngay 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý va sử dụng án phí va lệ phí Toa án.

- Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm va 892.050 đồng án phí dân sự sơ thẩm; tổng cộng la 1.092.050 đồng (Một triệu không trăm chín mươi hai nghìn không trăm năm mươi đồng).

- Buộc bị cáo Nguyễn Minh T2 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm va 682.550 đồng án phí dân sự sơ thẩm; tổng cộng la 882.550 đồng (Tám trăm tám mươi hai nghìn năm trăm năm mươi đồng).

- Buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Xuân Tứ va ba Trần Thị Cảnh phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người có quyền lợi va nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án nay trong thời hạn 15 ngay, kê từ ngay tuyên án. Đối với các bị hại, người có quyền lợi va nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án nay trong thời hạn 15 ngay, kê từ ngay nhận được bản án hoặc ngay bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hanh theo quy định tại Điều 2 Luật thi hanh án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hanh án dân sự năm 2014 thì người được thi hanh án dân sự, người phải thi hanh án dân sự có quyền thoả thuận thi hanh án, quyền yêu cầu thi hanh án, tự nguyện thi hanh án hoặc bị cưỡng chế thi hanh án theo quy định tại các Điều 6, 7 va 9 của Luật Thi hanh án dân sự va Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thi hanh án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hanh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hanh án dân sự.

Cỡ chữ