- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí Hào - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Trộmcắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2025/HS-ST Ngày 15-08-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sô.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tống Văn Tâm;
- Ông Nguyễn Văn Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Trường, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hữu - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/ QĐXX ST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Duy H, sinh năm 2001, tại tỉnh Đắk Lắk; thường trú: Thôn phước Huệ, xã Đ, tỉnh Đ; nơi ở hiện nay: Khu phố 4, phường V, Thành phố H. Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 07/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Cha Không rõ và mẹ là bà Nguyễn Kim S, sinh năm 1979; bị cáo là con duy nhất trong gia đình, chưa có vợ.
Tiền án, tiền sự: Không.
Ngày 20/3/2025 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đến ngày 07/5/2025 bị Cơ quan điều tra khởi tố và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Bị cáo có mặt.
Bị hại: Ông Lâm Ngọc L, sinh năm 1997, địa chỉ: Nhà trọ Lê Văn Phong, Tổ 4, Khu phố 7, phường V, Thành phố H. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 02 giờ, ngày 20/3/2025, Nguyễn Duy H trên đường đi bộ về nhà, khi ngang qua khu nhà trọ của ông Lê Văn Phong thì phát hiện tại hành lang có 01 xe mô tô biển số 63B5-048.61 đang dựng phía trước. không khoá cổ xe, không người trông coi. H liền nảy sinh ý định lấy trộm xe bán lấy tiền tiêu xài. H lén lút đi đến vị trí xe đang dựng, đẩy xe ra ngoài, rồi đẩy bộ xe về nhà trọ để cất giấu. Khi đang đẩy xe trên đường ĐB7 thuộc phường Vĩnh Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, thì bị Công an phường Vĩnh Tân phát hiện bắt giữ, đưa về trụ sở làm việc, sau đó chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 63B5-048.61, màu đen-vàng, số máy: 5C64641847, số khung: C640BY642088.
- 01 áo khoác thun, màu xám.
Bản Kết luận định giá ngày 31/3/2025, của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự xác định: 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 63B5-048.61 có giá trị 6.000.000 đồng.
Qua điều tra, xác định được xe mô tô biển số 63B5-048.61 là tài sản hợp pháp của ông Lâm Ngọc L, ngày 09/6/2005 Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 3524 trả lại cho Lâm Ngọc L.
Tại Bản cáo trạng số 30/CT-VKSTU, ngày 28 tháng 7 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy H về tội “Trộmcắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Nguyễn Duy H thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản cáo trạng đã mô tả và truy tố, bị cáo thống nhất với kết quả định giá của cơ quan chuyên môn, quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến thắc mắc hay khiếu nại đối với hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.
Bị hại ông Lâm Ngọc L khai nhận, mô tô biển số 63B5-048.61 là tài sản hợp pháp của ông L, hiện tại cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông, ông không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại, đề nghị xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, qua xét hỏi, thẩm tra và tranh luận công khai đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên nội dung quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Duy H về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 173 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H mức án từ 07 (bảy) đến 09 (chín) tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn yêu cầu xem xét vật chứng và án phí.
Phần tranh luận:
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt.
Bị hại không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Tòa án xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng bị cáo trình bày rất ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của mình, vì một phút nông cạn, thiếu suy nghĩ mà bị cáo nhất thời phạm tội và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về hành vi tiến hành tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến thắc mắc hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Duy H đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 20/3/2025, tại khu nhà trọ của ông Lê Văn Phong thuộc phường Vĩnh Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Duy H đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 63B5-048.61, có giá trị 6.000.000 đồng của ông Lâm Ngọc L. Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tính chất, mức độ của hành vi:
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý hình sự nhưng vì lười biếng lao động lại muốn có nhiều tiền tiêu xài mà bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang và nghi ngờ trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xét xử nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa tình hình phạm tội trộm cắp tài sản trong xã hội nói chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận”; “phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về hình phạt: Xét thấy, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại nhưng như đã phân tích tài sản bị cáo chiếm đoạt là phương tiện duy nhất của bị hại dùng để đi làm, mưu sinh, nếu không kịp thời phát hiện sẽ gây rất nhiều khó khăn cho bị hại trong việc đi lại nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự, cách ly bị cáo với xã hội bên ngoài một thời gian đủ dài để giúp bị cáo có thời gian suy nghĩ, tự học tập, cải tạo, biết quý trọng sức lao động, tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người khác và biết tôn trọng pháp luật. Tuy nhiên khi lượng hình có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn hối hận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển số 63B5-048.61 là tài sản hợp pháp của ông Lâm Ngọc L, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 3524 trả lại cho Lâm Ngọc L là có căn cứ.
Đối với 01 áo khoác thun, màu xám, đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, hiện tại không còn giá trị sử dụng và tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu trả lại nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nội dung Bản cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa về tội danh và mức hình phạt là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Trộmcắp tài sản”.
1. Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 áo khoác thun, màu xám của Nguyễn Duy H.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/7/2025 tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh với Công an Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Về án phí hình sự:
Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Duy H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND TP Hồ Chí Minh; - VKSND TP. Hồ Chí Minh; - Sở Tư pháp TP Hồ Chí Minh; - Phòng PV 06; PC 10; PC11 Công an TP Hồ Chí Minh; - THADS TP Hồ Chí Minh; - Phòng THADS KV 17 - TP HCM; - Bị cáo và Người TGTT; - Lưu: VT, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sô |