vanban.org

Bản án 37/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hưng Yên Tuyên án 25/07/2025 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Lê Tất D.

Về con chung: Giao con Lê Nhật H1, sinh ngày 01/11/2012 cho anh Lê Tất D trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Lê Thị Bảo C, sinh ngày 12/3/2018, cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh D, chị H có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được ở với người trực tiếp nuôi dưỡng, có quyền đi lại thăm nom, chăm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H ly hôn anh Lê Tất D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Lê Tất D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST
Ngày 09 tháng 4 năm 2025
V/v: Tranh chấp Hôn nhân và Gia
đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Giang Thanh

Ông Đặng Võ Luyện.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 183/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2024 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXX-ST ngày 11 tháng 03 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình. Địa chỉ hiện nay: Thôn M, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình.

- Bị đơn: Anh Lê Tất D, sinh năm 1993

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình.

(Chị H và anh D đều có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 25 tháng 7 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày và có yêu cầu như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Tất D kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A (trước là xã T), huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 13/12/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do anh D chơi bời nợ nần, dẫn đến vợ chồng cãi vã. Rất nhiều lần vợ chồng đã cùng nhau tìm cách giải quyết, anh D hứa sẽ thay đổi nhưng qua thời gian anh D càng nợ nhiều hơn nên mâu thuẫn vợ chồng không giải quyết được. Chị và anh D sống chung nhà nhưng anh D tính cách gia trưởng thường cấm đoán, đánh đập, đe dọa, nhục mạ chị và hay ghen tuông nên tình cảm vợ chồng lạnh nhạt. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Lê Tất D.

Về con chung: Chị và anh Lê Tất D có hai con chung là Lê Nhật H1, sinh ngày 01/11/2012 và Lê Thị Bảo C, sinh ngày 12/03/2018. Ly hôn chị có nguyện vọng mỗi người nuôi một con, anh D nuôi con Lê Nhật H1, chị có nguyện vọng nuôi con Lê Thị Bảo C, không ai phải cấp dưỡng cho con. Chị có việc làm, thu nhập ổn định và có chỗ ở đảm bảo việc nuôi con.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về khoản nợ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện T chị đã trả xong, các khoản nợ khác mà anh D trình bày là các khoản tiền chi tiêu sinh hoạt do mẹ chồng chị đưa trong quá trình chung sống cùng nhà chồng, ngoài ra còn có khoản tiền 20 triệu vay chị gái anh D để trả nợ mua xe máy cho anh D, xe này anh D đi đến nay chị cũng không biết xe ở đâu, nên chị xác định đây là nợ mà anh D phải trả. Ngoài ra chị còn nợ của bố mẹ đẻ chị 100.000.000 đồng nhưng chị xác định đây là nợ riêng của chị, chị sẽ có trách nhiệm trả cho bố mẹ nên chị nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Lê Tất D trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Hòa kết H2 tự nguyện, có đăng ký kết hôn như chị H trình bày. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do chị H không chung thuỷ nên dẫn đến vợ chồng sống ly thân. Nay chị H xin ly hôn, ban đầu anh không đồng ý ly hôn với chị H nếu chị H muốn tranh giành quyền nuôi con với anh, ngoài ra chị H còn có một số khoản nợ mẹ đẻ anh và chị gái anh, chị H vay làm gì anh không biết. Anh yêu cầu Toà án giải quyết xác định đây là nợ riêng của chị H, chị H phải có trách nhiệm trả cho mẹ anh và chị gái anh xong nợ anh mới đồng ý ly hôn với chị H.Về khoản nợ 100.000.000 đồng mà chị H khai vay của bố mẹ chị H là khoản nợ riêng của chị H, vay làm gì anh không biết, nên chị H phải có trách nhiệm trả do không liên quan đến anh.

Về con chung: Anh và chị có hai con chung như chị H trình bày. Ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi cả hai con, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con, khi chị H làm đơn ly hôn anh đang lao động ở nước ngoài nhưng hiện anh đã về Việt Nam và đang đi làm theo các công trình, anh có thu nhập và chỗ ở đảm bảo nuôi con.

Tại phiên toà, anh D đồng ý ly hôn với chị H và không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng.

* Xác minh tại gia đình anh Lê Tất D, bà Phạm Thị X là mẹ đẻ của anh D trình bày: Anh Lê Tất D và chị Nguyễn Thị Hòa kết H2 tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã T (nay là A), huyện T, tỉnh Thái Bình. Hiện anh D đang đi lao động ở Singapore, địa chỉ cụ thể bà không nắm được. Chị Nguyễn Thị H hiện đang ở cùng bố mẹ đẻ tại xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Chị H đã về ở với bố mẹ đẻ từ khoảng tháng 7/2024. Trước khi ly thân thì hai anh chị có mâu thuẫn xô xát, nguyên nhân là chị H có quan hệ ngoài luồng với người khác.

Anh chị có hai con chung như chị H trình bày. Từ ngày chị H bỏ đi, chị H không quan tâm đến các con, không gửi tiền về nuôi dưỡng các con.

Về tài sản: Anh chị có tài sản chung hay nợ những ai bà không biết. Anh chị có vay nợ 70.000.000 đồng tại Ngân hàng chính sách huyện T để làm gì bà không biết. Năm 2018 bà có đưa cho chị H 25.000.000 đồng để chị H mua bảo hiểm nhân thọ nhưng bà không có yêu cầu gì.

Nay chị H xin ly hôn anh D, do anh D không có mặt ở địa phương nhưng có nói lại với bà ý kiến của anh D là không đồng ý ly hôn nếu chị H không để anh nuôi hai con. Hiện giờ anh D ở nước ngoài nên bà không tự quyết định được, khi nào anh D về sẽ tự giải quyết. Về phía gia đình, bà mong hai con đoàn tụ nhưng nếu không được, mong Tòa giải quyết theo đúng pháp luật.

Nguyện vọng của cháu Lê Nhật H1 và cháu Lê Thị Bảo C đều là con ruột anh D chị H muốn ở với bố Lê Tất D khi bố mẹ ly hôn.

* Xác minh tại thôn A, xã A, Thôn trưởng cung cấp: Chị H và anh D kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại chính quyền xã T (nay là A) ngày 13/12/2012, cả hai anh chị đều đăng ký thường trú tại địa phương. Hiện tại anh D đi lao động tại nước ngoài (anh Lê Tất D đi lao động tại Singapore) không có mặt tại địa phương, địa chỉ cụ thể của anh D như thế nào địa phương không nắm được. Chị H cũng không có mặt tại địa phương mà đã về nhà bố mẹ đẻ, sống ly thân với anh D. Nguyên nhân anh chị sống ly thân địa phương không có thông tin. Anh chị có hai con chung như chị H và gia đình anh D trình bày, hiện cả hai cháu đang ở cùng ông bà nội. Chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ trước khi anh D đi lao động ở nước ngoài. Lý do anh chị ly thân địa phương không nắm được. Anh chị có tài sản chung hay nợ cá nhân nào thì địa phương cũng không có thông tin. Tuy nhiên, anh chị có nợ Ngân hàng chính sách 70.000.000 đồng, cụ thể là vay theo chương trình nước sạch vệ sinh môi trường 20.000.000 đồng, hạn cuối trả nợ là ngày 18/02/2027, vay hộ mới thoát nghèo 50.000.000 đồng cũng chưa đến hạn trả. Các khoản nợ là do chị H đứng tên, anh D ủy quyền cho chị H vay. Nay chị H và anh D ly hôn, đề nghị Tòa giải quyết theo đúng pháp luật và giải quyết khoản nợ của Ngân hàng chính sách vì anh chị vay thông qua địa phương.

*Xác minh tại chính quyền địa phương, UBND xã A, huyện T, tỉnh Thái thể hiện: Địa phương không rõ lý do mâu thuẫn dẫn đến chị H yêu cầu giải quyết ly hôn anh D nhưng tình trạng hiện nay thì chị H và anh D không cùng chung sống tại địa phương, chị H cũng không ở cùng gia đình anh D. Về con chung: Anh D và chị H có hai con chung là cháu Lê Nhật H1, sinh ngày 01/11/2012 và Lê Thị Bảo C, sinh ngày 12/3/2018, hai con chung đều khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là xã A), huyện T, tỉnh Thái Bình. Chị Nguyễn Thị H và anh Lê Tất D đều có đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung. Đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết vụ án. Về khoản vay thông qua chính quyền địa phương như Thôn trưởng đã trình bày. Đề nghị Toà án giải quyết buộc anh chị phải trả hết tiền vay cho Ngân hàng Chính sách trước khi ly hôn vì đây là gói vay của địa phương.

* Ngân hàng Chính sách xã hội huyện T có văn bản trả lời, xác định chị H anh D có khoản nợ như trên nhưng đã tất toán nên đến nay không còn nợ Ngân hàng Chính sách nữa, do vậy Ngân hàng không có yêu cầu gì.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm Phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đều tuân thủ theo quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55; 81, 82, 83 ,84 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Lê Tất D, giao mỗi người nuôi một con, không ai phải cấp dưỡng cho con. Chị H và anh D phải nộp án phí công nhận thuận tình ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn sinh sống và làm việc tại nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình theo khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy:

Về hôn nhân: Chị Hòa kết H2 tự nguyện, khi kết hôn không vi phạm điều kiện cấm kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A (trước là T), huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 13/12/2012, hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn hai anh chị trình bày không thống nhất nhưng thực tế anh chị đã sống ly thân và việc chị H có mối quan hệ bên ngoài là có thật, chị H cũng thừa nhận việc này. Do xác định vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị H xin ly hôn anh D. Anh D không đồng ý ly hôn với lí do hai bên chưa giải quyết dứt điểm vấn đề nợ chung của vợ chồng và anh không đồng ý vì chị H muốn giành quyền nuôi con. Tại phiên toà anh D cũng xác định không còn tình cảm với chị H nữa nên đồng ý ly hôn với chị H. Xét mâu thuẫn giữa anh chị là có thật, khó có thể hàn gắn, đời sống chung trên thực tế không còn tồn tại, tại phiên toà anh chị thuận tình ly hôn nên căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình, công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Lê Tất D.

Về con chung: Chị H và anh D có hai con chung là Lê Nhật H1, sinh ngày 01/11/2012 và Lê Thị Bảo C, sinh ngày 12/03/2018. Ly hôn chị có H nguyện vọng nuôi con Lê Thị Bảo C, anh D có nguyện vọng nuôi cả hai con, hai con có nguyện vọng ở với bố. Cả hai anh chị đều có việc làm và thu nhập đủ điều kiện nuôi con. Tuy nhiên, xét hiện anh D đang lao động theo công trình, nay đây mai đó, chị H ở có chỗ làm cố định tại địa phương nên có điều kiện trực tiếp chăm sóc con. Mặt khác nguyện vọng của con chung không phải điều kiện duy nhất để xác định quyền nuôi con, nên giao cho mỗi người nuôi một con, anh D nuôi con Lê Nhật H1 là phù hợp với nguyện vọng của anh và con H1, giao cho chị Nguyễn Thị H nuôi con Lê Thị Bảo C là đảm bảo quyền của phụ nữ, trẻ em và phù hợp với hoàn cảnh của anh chị. Không ai phải cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu giải quyết, anh D có trình bày về việc vợ chồng có nợ chung, Tòa án đã giải thích về việc người có yêu cầu phải làm đơn đề nghị Toà án giải quyết và cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ. Toà án cũng đã yêu cầu anh D cung cấp thông tin về các khoản nợ, họ tên, địa chỉ những người cho vợ chồng vay nợ nhưng hết thời hạn cung cấp tài liệu chứng cứ anh D vẫn không cung cấp cho Toà án và không có đơn yêu cầu Toà án giải quyết, vì vậy Tòa án không có căn cứ để giải quyết việc phân chia tài sản chung, nợ chung của vợ chồng anh chị trong vụ án này. Anh chị có quyền khởi kiện chia tài sản chung, nợ chung vợ chồng bằng vụ án khác khi cần.

Chị H tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 55; Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Lê Tất D.

2. Về con chung: Giao con Lê Nhật H1, sinh ngày 01/11/2012 cho anh Lê Tất D trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Lê Thị Bảo C, sinh ngày 12/3/2018, cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh D, chị H có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được ở với người trực tiếp nuôi dưỡng, có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Anh D, chị H có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng cho con khi cần.

3. Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H tự nguyện nộp cả 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0004272 ngày 01 tháng 10 năm 2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình, sang thi hành án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H, anh Lê Tất D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (09/4/2025).

Cỡ chữ