- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Th - K"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Chí Th
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2025/HNGĐ- ST Ngày: 27/9/2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Bùi Thị Cẩm;
2/ Bà Trương Thị Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Ngân là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Trần Phương Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 27/9/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 35/2025/TLST- HNGĐ, ngày 05 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST - HNGĐ, ngày 19/8/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 56/2025/QĐST- HNGĐ, ngày 08/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Chí Th, sinh năm 1985.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1994.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố Thiệp S, phường Trà C, tỉnh Quảng Ngãi.
(Nguyên đơn có Đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn chị Nguyễn Thị K vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/02/2025 và các lời khai tại Tòa nguyên đơn là anh Nguyễn Chí Th trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị Ktự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phổ Th, thị xã Đ (nay là phường Tr), tỉnh Quảng Ngãi vào năm 2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh sống hạnh phúc được vài năm thì phát sinh mâu thuẫn do chị K không có trách nhiệm với gia đình, con cái dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả, chị K dẫn con gái lớn ra ngoài thuê nhà sống riêng (trong xã), anh đã nhiều lần động viên chị về chung sống cùng lo cho con nhưng chị không nghe. Nay, tình cảm vợ chồng không còn nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị K.
Về con chung: Anh Th trình bày vợ chồng có ba con chung là Nguyễn Thanh H, sinh ngày 14/5/2015; Nguyễn Lộc Kh, sinh ngày 09/8/2017 và Nguyễn Lộc P, sinh ngày 11/5/2021. Khi ly hôn, anh Th yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Lộc Kh và Nguyễn Lộc P; giao con chung Nguyễn Thanh H cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng; anh Th không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh Th trình bày không có
Bị đơn chị Nguyễn Thị K: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị K nhưng chị K không đến Tòa, không trình bày ý kiến.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo đúng quy định của pháp luật; riêng bị đơn thực hiện không đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị HĐXX cho anh Th được ly hôn chị Kim; về con chung: Giao hai con Nguyễn Lộc Kh, sinh ngày 09/8/2017 và Nguyễn Lộc P, sinh ngày 11/5/2021 cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng; giao con Nguyễn Thanh H cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng; anh Th không yêu cầu chị K phải cấp dưỡng cho con; về tài sản chung: Không yêu cầu; về nợ chung: Không có. Ngoài ra, đương sự còn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Anh Nguyễn Chí Th khởi kiện yêu cầu ly hôn chị Nguyễn Thị K; cư trú tại: Tổ dân phố Th, phường Tr tỉnh Quảng Ngãi. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn là chị Nguyễn Thị K các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 175 và Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Mặc dù, chị K biết Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn mà chị là bị đơn nhưng chị vắng mặt và không thực hiện nghĩa vụ chứng minh. Chị K phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn là anh Nguyễn Chí Th có Đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn chị Nguyễn Thị K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Chí Th và chị Nguyễn Thị K kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã Đ (Nay là phường Tr), tỉnh Quảng Ngãi vào năm 2014. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh Th và chị K là hợp pháp.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Anh Th cho rằng, cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc cho anh, chị do bất đồng quan điểm sống dẫn đến giữa anh chị thường xuyên cãi vả, chị K không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm con cái. Anh Th yêu cầu ly hôn nhưng chị K không đến Tòa và không có ý kiến gì, có ý bỏ mặc. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của anh Th và chị K đã trở nên trầm trọng, kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của anh Th là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh Th và chị K có ba con chung là Nguyễn Thanh H, sinh ngày 14/5/2015; Nguyễn Lộc Kh, sinh ngày 09/8/2017 và Nguyễn Lộc P, sinh ngày 11/5/2021. Khi ly hôn, anh Th yêu cầu được trực tiếp nuôi con Nguyễn Lộc Kh và Nguyễn Lộc P và đồng ý giao con Nguyễn Thanh H cho chị K trực tiếp nuôi; anh Thân không yêu cầu chị K phải cấp dưỡng cho con.
HĐXX xét thấy: Anh Th đang trực tiếp nuôi hai con Nguyễn Lộc Kh và Nguyễn Lộc P; chị K đang nuôi con Nguyễn Thanh H khỏe mạnh, ổn định; chị K không có ý kiến về phần con chung, để đảm bảo sự ổn định cho các con về mọi mặt nên cần giao con Nguyễn Lộc Kh, sinh ngày 09/8/2017 và Nguyễn Lộc P, sinh ngày 11/5/2021 cho anh Th trực tiếp nuôi; giao con Nguyễn Thanh H cho chị K trực tiếp nuôi là hợp pháp và hợp lý.
Về cấp dưỡng cho con: Anh Th không yêu cầu chị K phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra giải quyết.
Về nợ chung: Anh Th trình bày không có.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy, căn cứ vào Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, anh Th phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 6, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Chí Th
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Chí Th được ly hôn chị Nguyễn Thị K
2. Về con chung: Giao con Nguyễn Lộc Kh, sinh ngày 09/8/2017 và Nguyễn Lộc P, sinh ngày 11/5/2021 cho anh Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao con Nguyễn Thanh H, sinh ngày 14/5/2015 cho chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Th không yêu cầu chị K phải cấp dưỡng cho con.
Anh Thân, chị K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu nên HĐXX không giải quyết
4. Về nợ chung: Không có.
4. Về án phí: Anh Nguyễn Chí Th phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Th đã nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004778 ngày 05/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 6 – Quảng Ngãi) nên được khấu trừ xong.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND KV6 – Quảng Ngãi; - Phòng THADS KV 6 – Quảng Ngãi; - UBND phường Tr; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. Các thành viên Hội đồng xét xử Các thành viên Hội đồng xét xử tòa | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Vân Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Thẩm phán - Chủ tọa phiên |