vanban.org

Bản án 37/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên án: Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Thu H và Nguyễn Hoàng G. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21-8-2025
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tăng Tài Thủ.

2. Bà Thái Ánh Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Phạm Ngọc Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 155/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 05 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1994; Địa chỉ: Khu vực Long Thạnh A, phường Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. – Có mặt

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng G, sinh năm 1992; Địa chỉ: Khu vực Long Thạnh A, phường Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. - Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Thu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Hoàng G tiến đến hôn nhân vào năm 2011 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Thốt Nốt, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ (cũ) theo số đăng ký 176 ngày 26/9/2011. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do ông G không chung thủy nên từ đó cả hai luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không còn phù hợp, thường xuyên cự cãi làm hạnh phúc gia đình đỗ vỡ, không thể hàn gắn được và vợ chồng ly thân từ tháng 7/2017 cho đến nay. Nay bà nhận thấy tình trạng hôn nhân không thể kéo dài, không còn tình cảm với ông G nên bà yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Ông bà có hai con chung tên Nguyễn Hoàng S (giới tính: nam), sinh ngày 02/10/2011 và Nguyễn Ngọc G (giới tính: nữ), sinh ngày 17/3/2017. Hiện nay cả hai con chung đang sống với bà H do vậy khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con, bà không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung bà xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập ông Nguyễn Hoàng G tham gia tố tụng theo quy định pháp luật nhưng ông G đều vắng mặt và cũng không nộp cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa là đúng theo quy định pháp luật, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Về hôn nhân chấp nhận cho bà Trần Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng G. Về con chung: giao cả hai con chung cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng, ông G không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung - Không giải quyết trong cùng vụ án, khi đương sự có yêu cầu sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Hoàng G đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần hai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông.

Về hôn nhân: Xét bà Trần Thị Thu H và ông Nguyễn Hoàng G tiến tới hôn nhân vào năm 2011, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa ông bà phát sinh mâu thuẫn, bà H cho rằng ông G không chung thủy, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng không khắc phục được, bà không còn tình cảm với ông G và không thể tiếp tục chung sống với ông nên bà cương quyết yêu cầu ly hôn, riêng ông G dù đã được Tòa án thông báo về việc yêu cầu ly hôn của bà H nhưng ông không có ý kiến. Từ đó, cho thấy mong muốn ly hôn của bà H là có nhưng ông G không có ý kiến và không có biện pháp gì hàn gắn gia đình. Xét vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng nay bà H xác định hạnh phúc gia đình không có, không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với ông G, ông G lại không đưa ra biện pháp hàn gắn gia đình cho thấy hôn nhân của ông bà lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận cho bà Trần Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng G.

Về con chung: Ông bà có hai con chung tên Nguyễn Hoàng S (giới tính: nam), sinh ngày 02/10/2011 và Nguyễn Ngọc G (giới tính: nữ), sinh ngày 17/3/2017. Khi ly hôn bà H yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con; về phía ông G từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay ông không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án cũng như không có bất cứ văn bản ghi ý kiến nào về các yêu cầu của nguyên đơn. Xét hiện con chung do bà H nuôi dưỡng, các con có nguyện vọng tiếp tục sống với bà H và qua xác minh ở địa phương không xảy ra vụ việc về bạo lực gia đình. Do vậy, nếu thay đổi người nuôi con có thể ảnh hưởng đến tâm lý của con nên Hội đồng xét xử xét thấy giao cả hai con chung cho bà H tiếp tục nuôi con là phù hợp. Ngoài ra, xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha mẹ, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên người được quyền yêu cầu cấp dưỡng không có yêu cầu ông G thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định nên Hội đồng xét xử không buộc ông G phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp

Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết trong cùng vụ án, khi đương sự có yêu cầu sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Thu H phải chịu theo quy định pháp luật.

Xét đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 28, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Thu H và Nguyễn Hoàng G.

2. Về con chung: Ông bà có hai con chung tên Nguyễn Hoàng S (giới tính: nam), sinh ngày 02/10/2011 và Nguyễn Ngọc G (giới tính: nữ), sinh ngày 17/03/2017. Giao cả hai con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông G không phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho ông G không ai được quyền cản trở. Ông G, bà H có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con vì lợi ích của con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết trong cùng vụ án, khi đương sự có yêu cầu sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

- Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Thu H phải chịu tiền án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo biên lai thu tiền số 0002698 ngày 28/4/2025 được chuyển thành án phí.

Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ