| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18 - 9 - 2025 Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Nguy n Cảnh Khang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- ng Huỳnh Sơn Tây.
- ng Nguy n Thanh Cần.
- Thư ký phiên toà: ng Lềnh Khâm Vĩ - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17
- Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 28/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2025, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị V, sinh năm 1985; CCCD số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Đường D, Tổ F, khu phố D, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: ng Lê Hồng P, sinh năm 1981; CCCD số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Đường D, Tổ F, khu phố D, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:
Bà Lê Thị V và ông Lê Hồng P tự nguyện tìm hiểu, chung sống và được hai gia đình đồng ý làm l cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy ch ng nh n kết hôn số 22/2007 ngày 30/01/2007. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng t tháng 3 năm 2022 thì phát sinh mâu thuân nên vợ, chồng sống không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thu n do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên lớn tiếng, cãi vã, không thể hòa hợp, ông P ghen tuông vô cớ, đi nh u về chửi bới, lăng mạ, đánh đ p bà V nên vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc gì nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã nhiều lần cho nhau cơ hội, đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không đoàn tụ được, vợ chồng đã ly thân t 02 năm nay. Nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn. Vì v y, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Lê Hồng P.
Trong quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung tên Lê Quỳnh T, sinh ngày 27/8/2007; Lê Quỳnh L, sinh ngày 24/12/2013, Lê Minh K, sinh ngày 21/11/2019, bà Lê Thị V yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chung tên Lê Quỳnh T, Lê Quỳnh L, Lê Minh K. Vì t trước giờ chỉ một mình bà V chăm sóc con cái t việc ăn học, ngủ nghỉ của con, ông P trong nhà không có trách nhiệm gì cho gia đình. Hiện nay, bà V làm nhân viên Công ty Đ lương hàng tháng t 10 đến 11 triệu đồng và tiền thu t nhà cho thuê khoảng 4 triệu đồng, ngoài ra trong nhà còn có bà N (mẹ bà V và em út phụ chăm sóc con trong khi bà V đi làm nên bà V xác định đủ điều kiện để chăm sóc đầy đủ cho các con.
Về cấp dưỡng: Bà Lê Thị V không yêu cầu Lê Hồng P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tụng, bị đơn ông Lê Hồng P đã được Tòa án thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng và triệu t p hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không cung cấp bản tự khai hay bất kỳ tài liệu, ch ng c gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
+ Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp lu t tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp lu t tố tụng, các đương sự không bị hạn chế các quyền khi tham gia tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng pháp lu t tố tụng, bị đơn đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa là tự t bỏ quyền ch ng minh, tranh tụng của mình.
Về nội dung vụ án: Căn c vào các tài liệu, ch ng c có tại hồ sơ vụ án nh n thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn c , bị đơn đã được triệu t p hợp lệ nhiều lần nhưng v n vắng mặt tại phiên tòa là tự t bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nh n toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Kiến nghị khắc phục vi phạm: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên c u các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn c vào kết quả tranh lu n tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp lu t và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Lê Thị V khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với bị đơn ông Lê Hồng P có nơi cư trú địa chỉ: Đường D, Tổ F, khu phố D, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, quan hệ pháp lu t là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ lu t Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu t p hợp lệ nhiều lần nhưng v n vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227 và 228 của Bộ lu t Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị V và ông Lê Hồng P tự nguyện tìm hiểu, chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy ch ng nh n kết hôn số 22/2007 ngày 30/01/2007. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp pháp nên được pháp lu t bảo vệ.
Về mâu thu n vợ chồng: Bà Lê Thị V trình bày, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng t tháng 3 năm 2022 thì phát sinh mâu thu n nên sống không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thu n do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên lớn tiếng, cãi vã, không thể hòa hợp, ông P ghen tuông vô cớ, đi nh u về chửi bới, lăng mạ, đánh đ p bà V nên vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc gì nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã nhiều lần cho nhau cơ hội, đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không đoàn tụ được, vợ chồng đã ly thân t 02 năm nay.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa người vợ và người chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ l n nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng quan điểm, mâu thu n thì người vợ và người chồng phải cùng nhau tích cực hàn gắn, xóa bỏ những mâu thu n, duy trì tình cảm tốt đẹp. Nhưng quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc và d n đến mâu thu n kéo dài. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu t p hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn ông P đến Tòa án tham gia hòa giải, phiên tòa nhưng bị đơn không lên, cho thấy bị đơn không quan tâm và không mong muốn vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ để xây dựng gia đình cùng nhau chăm sóc con cái. Do đó, lời trình bày cũng như yêu ly hôn của nguyên đơn là có căn c nên Hội đồng xét xử chấp nh n.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà V và ông P có 03 con chung tên Lê Quỳnh T, sinh ngày 27/8/2007; Lê Quỳnh L, sinh ngày 24/12/2013, Lê Minh K, sinh ngày 21/11/2019. Bà V yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chung.
Xét thấy, theo biên bản ghi nh n ý kiến nguyện vọng con chung cháu Lê Quỳnh T, Lê Quỳnh L nguyện vọng được sống chung với mẹ là bà V. Đến thời điểm ngày 18/9/2025, Tòa án xét xử vụ án cháu Lê Quỳnh T, sinh ngày 27/8/2007 đã trưởng thành trên 18 tuổi nên Tòa án không giải quyết. Hiện nay, bà V làm nhân viên Công ty Đ lương hàng tháng t 10 đến 11 triệu đồng và tiền thu t nhà cho thuê khoảng 4 triệu đồng, ngoài ra trong nhà còn có bà N (mẹ bà V và em út phụ chăm sóc con trong khi bà V đi. ng P không có văn bản trình bày ý kiến về nội dung vụ án, không cung cấp tài liệu, ch ng c về điều kiện nuôi con, cho thấy rằng không mong muốn gì đối với con chung. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở giao 02 con chung tên Lê Quỳnh L, sinh ngày 24/12/2013, Lê Minh K, sinh ngày 21/11/2019 cho bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị V tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nh n.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
T những nh n định trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nh n toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị V.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp lu t.
Về án phí: Bà Lê Thị V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c vào:
- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ lu t Tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Lu t Hôn nhân và Gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nh n toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị V đối với bị đơn ông Lê Hồng P về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị V được ly hôn với ông Lê Hồng P.
- Về con chung: Giao cho bà Lê Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung tên Lê Quỳnh L, sinh ngày 24/12/2013, Lê Minh K, sinh ngày 21/11/2019. Đối với con chung tên Lê Quỳnh T, sinh ngày 27/8/2007 đã trưởng thành nên Tòa án không giải quyết.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nh n sự tự nguyện của bà Lê Thị V về việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc m c cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
2. Về án phí: Bà Lê Thị V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu tr vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng tạm ng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ng án phí, lệ phí Tòa án số 0002498 ngày 08/7/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nh n được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Lu t thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Lu t thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Lu t thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh; - THADS Thành phố Hồ Chí Minh; - UBND phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Cảnh Khang |