- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị Mai Anh - Nguyễn Chí Vạn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị Mai A đối với bị đơn anh Nguyễn Chí V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST Ngày 31/7/2025 V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công. Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Tú Nhi;
2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Ninh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh, Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 265/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2025/QĐST- HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Mai A, sinh năm 2000; thường trú: Ấp B, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (nay là ấp B, xã T, tỉnh Cà Mau); địa chỉ liên hệ: Số nhà C, Đường D, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là số nhà C, Đường D, khu phố Đ, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Chí V, sinh năm 1999; thường trú: Ấp T, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (nay là ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau); tạm trú: Số nhà C, Đường D, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là số nhà C, Đường D, khu phố Đ, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Đỗ Thị Mai A trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị A và anh Nguyễn Chí V có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 02 năm thì tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (nay là UBND xã T, tỉnh Cà Mau) theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 57/2019 cấp ngày 27/9/2019. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sinh sống tại số nhà C, Đường D, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là số nhà C, Đường D, khu phố Đ, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, thường xuyên cãi vả, hiện nay hai vợ chồng sống ly thân từ tháng 4/2025 cho đến nay. Nay chị Đỗ Thị Mai A xác định tình cảm với anh Nguyễn Chí V không còn nên đề nghị được ly hôn với anh V.
- Về con chung: Không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung; quyền và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Đỗ Thị Mai A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Chí V: Tòa án đã triệu tập hợp lệ để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 19/6/2025; tham gia phiên tòa vào các ngày 11/7/2025 và ngày 31/7/2025 nhưng vắng mặt không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu của chị A và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án.
- Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Đỗ Thị Mai A và anh Nguyễn Chí V do Tòa án tiến hành ngày 30/5/2025, chính quyền địa phương cung cấp thông tin như sau: Chị A và anh V trước khi nộp đơn khởi kiện xin ly hôn tại Tòa án chị A không yêu cầu chính quyền địa phương tổ chức hòa giải cơ sở. Quá trình chung sống thực tế mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, vấn đề chăm sóc, nuôi dạy con chung như thế nào chính quyền địa phương không nắm rõ vì không thấy đại diện khu phố hay địa phương phản ánh hay cung cấp thông tin gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn được triệu tập 02 lần tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
Về hôn nhân giữa nguyên đơn chị Đỗ Thị Mai A và bị đơn anh Nguyễn Chí V có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống không hạnh phúc do mâu thuẫn kéo dài, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, nguyên đơn chị A yêu cầu ly hôn với anh V là có cơ sở chấp nhận. Về con chung không có nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Đỗ Thị Mai A có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Chí V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào các ngày 11/7/2025 và ngày 31/7/2025 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2019, chị Đỗ Thị Mai A và anh Nguyễn Chí V tự nguyện tìm hiểu tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (nay là UBND xã T, tỉnh Cà Mau) theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 57/2019 cấp ngày 27/9/2019 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích, vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Nguyên đơn xác định chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên tranh cãi va, hiện hai vợ chồng sống ly thân. Cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm mục đích hôn nhân không đạt được. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập bị đơn anh V đến làm việc, hòa giải nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh V không có mặt. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng chị A và anh V. Do, đó nguyên đơn chị Đỗ Thị Mai A yêu cầu ly hôn với bị đơn Nguyễn Chí V là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Tòa án chấp nhận.
Về con chung: Nguyên đơn chị Đỗ Thị Mai A trình bày không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ cở chấp nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Đỗ Thị Mai A phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị Mai A đối với bị đơn anh Nguyễn Chí V.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Mai A được ly hôn với anh Nguyễn Chí V (Theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 57/2019 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (nay là UBND xã T, tỉnh Cà Mau) cấp ngày 27/9/2019.
Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đỗ Thị Mai A phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí về ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 0008339 ngày 15/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |