- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Huỳnh Thị Kiều T và Phạm Chí H"
- Tòa quyết gì? Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành án xong, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả lãi theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2025/DS-ST Ngày: 22 – 4 – 2025. “ V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm.
2. Ông Đinh Minh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm không tham gia phiên tòa.
Ngày 22 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 30/2025/TLST - DS ngày 03 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2025/QĐXX-ST ngày 02/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2025/QĐST– DS ngày 02/4/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Kiều T – sinh năm: 1994 (vắng).
Địa chỉ: ấp Q, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Huỳnh Thị Kiều T là chị Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1984 (theo văn bản ủy quyền ngày 31/12/2024) (có mặt).
Địa chỉ: ấp P, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Bị đơn: Anh Phạm Chí H – sinh năm: 2000 (vắng).
Địa chỉ: ấp Q, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 10/01/2025; trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà hôm nay người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kiều T là chị Nguyễn Thị T1 trình bày:
Do có quen biết với nhau nên vào ngày 12/12/2024 chị T có cho anh H vay số tiền 60.000.000đ bằng hình thức là chị T đã đưa trực tiếp cho anh H nhận số tiền là 20.000.000đ còn đối với số tiền 40.000.000đ thì chị T chuyển khoản cho anh H. Chuyển vào số tài khoản 9138038886789 của anh H, không có viết biên nhận, không có thỏa thuận lãi suất, thời gian trả là anh H nói với chị T vài ngày anh H sẽ trả tiền vay cho chị T. Sau đó chị T nhiều lần yêu cầu anh H trả tiền vay cho chị T nhưng anh H không trả. Nay chị T rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với anh H với số tiền 20.000.000đ, chị T yêu cầu anh H có nghĩa vụ trả cho chị T số tiền vay là 40.000.000đ, không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn anh Phạm Chí H đã được Tòa án tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng anh H không đến Tòa án nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng dân sự:
Nguyên đơn chị T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa chị T và bị đơn anh H. Anh H có nơi cư trú tại ấp Q, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại Điều 26; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm.
Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh H vắng mặt, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh H đến lần thứ hai nhưng anh H vẫn vắng mặt không có lý do. Nên căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh H.
Về nội dung vụ án:
Hợp đồng vay tài sản giữa chị T và anh H được thiết lập dựa trên sự tự nguyện giữa đôi bên nên hợp đồng này phù hợp theo quy định của pháp luật.
Chị T đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình là đã giao cho anh H số tiền 60.000.000đ. Từ khi chị T đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình thì anh H không thực hiện đúng nghĩa vụ là trả đủ số tiền vay cho chị T dẫn đến quyền lợi của chị T bị thiệt hại cần được bảo vệ.
Người đại diện theo ủy quyền của chị T là chị T1 trình bày ngày 12/12/2024 chị T có cho anh H vay số tiền 60.000.000đ, trong đó chị T đã giao trực tiếp cho anh H nhận số tiền là 20.000.000đ và chuyển khoản 40.000.000đ cho anh H, hai bên không có thỏa thuận lãi suất, không có viết biên nhận, hai bên thỏa thuận thời gian trả là anh H hứa với chị T vài ngày sẽ trả tiền vay lại chị T. Sau đó chị T nhiều lần yêu cầu anh H trả tiền vay cho chị T nhưng anh H không trả, làm cho quyền và lợi ích hợp pháp của chị T bị xâm phạm. Nay chị T rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với anh H với số tiền 20.000.000đ, chị T yêu cầu anh H có nghĩa vụ trả cho chị T số tiền vay là 40.000.000đ, không yêu cầu tính lãi.
Xét thấy tại phiên tòa hôm nay anh H vắng mặt. Tại “giấy báo nợ” ngày 12/12/2024 với nội dung tên người chuyển Huỳnh Thị Kiều T, tên người thụ hưởng Phạm Chí H nhận số tiền 40.000.000đ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T do chị T1 đại diện theo ủy quyền. Do đó buộc anh H phải có nghĩa vụ trả lại cho chị T số tiền vay là 40.000.000đ, chị T không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đình chỉ đối với yêu cầu của chị T yêu cầu anh H trả số tiền vay là 20.000.000đ.
Án phí sơ thẩm: Buộc anh H phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.000.000đ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 465, Điều 466 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kiều T do chị Nguyễn Thị T1 đại diện theo ủy quyền. Buộc anh Phạm Chí H có nghĩa vụ trả cho chị Huỳnh Thị Kiều T số tiền vay là 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng), chị Huỳnh Thị Kiều T không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành án xong, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả lãi theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Án phí sơ thẩm:
+ Buộc anh Phạm Chí H phải nộp án phí là 2.000.000đ (Hai triệu đồng).
+ Chị Huỳnh Thị Kiều T không phải nộp án phí. Hoàn trả lại cho chị Huỳnh Thị Kiều T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số N0 0009794 ngày 03/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; -VKSND huyện Vũng Liêm; -Chi cục THADS huyện Vũng Liêm; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ngô Thị Quyên |