vanban.org

Bản án 37/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Công M phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Công M 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2023 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Công Minh trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Công M phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HSST
Ngày: 05-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thành Viên

2. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Lê Quỳnh Thư

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Huỳnh Công M; giới tính: Nam, sinh năm 1974 tại Thành phố H; Hộ khẩu thường trú và cư trú: 61/59/8 Đường X, Phường Y, quận GV, Thành phố H; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Cha: Huỳnh Kim S (đã chết) và mẹ: Nguyễn Kim Đ (đã chết); Hoàn cảnh gia đình chưa có vợ con; Tiền án: không; tiền sự : không. Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 23/10/2023 (Có mặt).

Bị hại :

- Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 2002; Trú tại: 54/28 Đường C, Phường A, quận GV, Tp. H ( vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 9 giờ 30 phút ngày 21/07/2023, chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 2002; HKTT: 2/7 đường B, phường G, thành phố V, Tỉnh T; nơi ở hiện nay: 54/28 đường C, Phường A, quận GV, Thành phố H đi xe máy hiệu Honda Vision biển số 72C1-472.29 đến bãi giữ xe 168 địa chỉ: 80/68 đường D, Phường K, quận GV để gửi xe đi học. Lúc này chị Nguyễn Thị Thu H để quên trên cốp bên trái phía trước xe 01 điện thoại di động hiệu REDMI Note 10 Pro. Đến khoảng 9 giờ 50 phút chị Nguyễn Thị Thu H xuống bãi giữ xe tìm điện thoại thì phát hiện đã bị mất. Sau đó, chị Nguyễn Thị Thu H nhờ anh Nguyễn Văn C, sinh năm: 1987 là quản lý bãi xe kiểm tra lại camera thì thấy nhân viên Huỳnh Công M là người xếp xe và nghi vấn người này lấy trộm điện thoại của chị Nguyễn Thị Thu H. Anh Nguyễn Văn C hỏi Huỳnh Công M có lấy điện thoại của chi Nguyễn Thị Thu H không thì Huỳnh Công M không thừa nhận nên chị Nguyễn Thị Thu H đến Công an Phường K, Quận GV trình báo sự việc.

Quá trình điều tra xác định: Huỳnh Công M là nhân viên bãi giữ xe 168 trong lúc xếp xe cho chị Nguyễn Thị Thu H, thì phát hiện bên hộc trái phía trước của xe máy có chiếc điện thoại hiệu Remi Note 10 Pro màu đen nên Huỳnh Công M nảy sinh lòng tham lén lút dùng tay phải lấy trộm điện thoại. Do Huỳnh Công M biết trong bãi giữ xe có camera nên Huỳnh Công M đem điện thoại trên cất giấu ở bậc thềm ở cuối bãi giữ xe. Khi cất giấu thì Huỳnh Công M dùng găng tay để che điện thoại, đồng thời tắt nguồn chiếc điện thoại trên để sau đó mang đi tiêu thụ thì bị phát hiện.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 10 Pro, dung lượng 128 GB; 01 USB chứa đoạn clip Huỳnh Công M trộm cắp tài sản.

Kết luận định giá số 146/KL-HĐĐGTS ngày 03/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Gò Vấp kết luận: 01 điện thoại di động hiệu REDMI Note 10 Pro màu đen, số Imei: 863507052983418, đã qua sử dụng theo giá thị trường tại thời điểm định giá là 2.833.333 đồng (Hai triệu tám trăm ba mươi ba ngàn ba trăm ba mươi ba đồng).

Tại bản cáo trạng số 25/Ctr-VKS, ngày 05/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận GV đã truy tố bị cáo Huỳnh Công M về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Huỳnh Công M đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận GV sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Công M mức án từ 06 tháng đến 01 năm tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo

- Tịch thu lưu kèm hồ sơ vụ án 01 USB

Qua ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát bị cáo nhất trí và không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận GV, Viện kiểm sát nhân dân quận GV, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai của người làm chứng, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận GV, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận GV và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị 2.833.333 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Huỳnh Công M đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung như Viện kiểm sát nhân dân quận GV đã truy tố.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng trong lúc bị hại sơ hở đã để quên chiếc điện thoại trên cốp xe, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại, điều đó cho thấy bị cáo rất xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo chỉ vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính nên đã thực hiện hành vi phạm tội nên cần thiết phải xử lý nghiêm, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự : Tại phiên tòa, bị hại chị Nguyễn Thị Thu H vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện chị H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 10 Pro, dung lượng 128 GB thuộc quyền sở hữu của chị Nguyễn Thị Thu H. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại các tài sản trên cho chị Hiền. Xét, việc trả lại tài sản trên là hợp lệ nên không đưa ra xem xét giải quyết lại.

- 01 USB chứa đoạn clip Huỳnh Công M trộm cắp tài sản. Xét, đây là chứng cứ của vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu lưu kèm hồ sơ vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Công M phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Công M 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2023

Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và khỏan 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu lưu kèm hồ sơ vụ án 01 USB

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng. Nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ