- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị T phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận háng cáo của bị cáo Lê Thị T và chấp nhận một phần háng cáo của bị h i Ph m Thị H1, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 05/2024/HS-ST ngày 09-01-2024 của Tòa án nh n d n huyện T n Ch u, t nh T y Ninh.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử ph t; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2024/HS-PT Ngày: 02-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Chiến
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Bình;
Ông Trần Thanh Tòng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê M nh H ng - Th
Tòa án nh n d n t nh T y Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Út Nhỏ - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2024 t i Tòa án nh n d n t nh T y Ninh xét xử phúc thẩm công hai vụ án hình sự phúc thẩm thụ l số 29/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo Lê Thị T; do có háng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 05/2024/HS-ST ngày 09-01-2024 của Tòa án nh n d n huyện T n Ch u, t nh T y Ninh.
Bị cáo: Lê Thị T, sinh năm: 1974 t i: t nh Thanh Hoá; Nơi đăng nh n hẩu th ờng trú: ấp H, xã T, huyện T, t nh T y Ninh; Nơi c trú hiện nay: ấp H, xã T, huyện T, t nh T y Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; D n tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có; Giới tính: Nữ; con ông: Lê Văn T1, sinh năm 1948, mẹ bà: Đỗ Thị T2, sinh năm 1952; Chồng: Hàn Văn K, sinh năm 1972; Có 04 con; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi hỏi nơi c trú t i xã T, huyện T từ ngày 21-9-2023 cho đến nay, có mặt t i phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị T: Luật s Lê Thị Kiều D – Văn phòng Luật s Nguyễn Duy H thuộc Đoàn luật s t nh T, có mặt.
Bị hại: Bà Ph m Thị H1, sinh năm 1975; trú t i: ấp H, xã T, huyện T, t nh Tây Ninh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 23-4-2023, Lê Thị T có tổ chức đám c ới cho con gái của T. Sau đám c ới thì T nghe ng ời hác nói l i là chị Ph m Thị H1 nói T đã giấu ghế inox của cơ sở cho thuê r p c ới nên giữa T và chị H1 đã xảy ra m u thuẫn. Vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 21-5-2023, biết chị H1 th ờng đến quán n ớc và bán t p hóa tên “Xe đ p ơi” thuộc ấp H, xã T, huyện T, t nh T y Ninh, để uống cà phê nên T lấy 01 cái chày bằng gỗ d ng để giã h t tiêu, ích th ớc dài 21,5cm, đầu lớn nhất có đ ờng ính 04,50cm, đầu nhỏ nhất có đ ờng ính 03,50cm mang theo trong ng ời đi đến quán tìm để đánh chị H1. T i đ y, giữa T và chị H1 đã xảy ra g y gỗ với nhau, T đứng đối diện với chị H1 tay phải cầm cái chày đánh theo h ớng ngang từ trái qua phải trúng v ng trán bên phải của chị H1, sau đó T đánh tiếp cái thứ hai thì chị H1 d ng tay phải đang cầm điện tho i di động, nhãn hiệu S1 A03S đ a lên đở nên trúng vào điện tho i rơi xuống đất g y h hỏng, cái chày gỗ bị tr ợt trúng vào v ng môi d ới của chị H1 g y chảy máu, làm chị H1 té xuống nền xi măng. T và chị H1 tiếp tục giằng co trên nền xi măng và đ ợc những ng ời xung quanh can ngăn, T cầm cái chày gỗ bỏ về nhà, còn chị H1 đ ợc ng ời nhà đ a đi sơ cứu t i Tr m y tế xã T, huyện T, sau đó tiếp tục đến t i Bệnh viện Đ t i thị xã H, t nh T y Ninh để điều trị.
Ngày 26-6-2023 và ngày 20-9-2023, chị H1 có đơn yêu cầu giám định th ơng tật và yêu cầu xử l hình sự đối với T.
Kết luận giám định tổn th ơng cơ thể trên ng ời sống số 211/KLTTCT-TTPYTN ngày 05-9-2023 của Trung t m pháp y t nh T đối với Ph m Thị H1, ết luận: Tỷ lệ tổn th ơng cơ thể hiện t i là 03%; Th ơng tích ph hợp do vật tày g y ra; Cơ chế hình thành th ơng tích trực tiếp.
Kết luận định giá tài sản số 49/KL-HĐĐG ngày 26-10-2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện T, t nh T y Ninh ết luận: 01 màn hình cảm ứng chiếc điện tho i di động S1 A03S thời điểm ngày 21-5-2023 trị giá là 483.000 đồng và 01 vỏ chiếc điện tho i di động S1 A03S thời điểm ngày 21-5-2023 trị giá là 183.000 đồng. Tổng trị giá là 666.000 đồng.
Trách nhiệm d n sự: Chị Ph m Thị H1 yêu cầu Lê Thị T bồi th ờng chi phí điều trị vết th ơng với số tiền 50.032.000 đồng và bồi th ờng điện tho i bị h số tiền 3.500.000 đồng. T ch a bồi th ờng.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 05/2024/HS-ST ngày 09-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Căn cứ điểm a hoản 1 Điều 134; điểm b, i, s hoản 1; hoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử ph t bị cáo Lê Thị T 06 (S) tháng t về tội “Cố g y th ơng tích”. Thời h n chấp hành hình ph t t tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành.
Buộc bị cáo Lê Thị T có nghĩa vụ bồi th ờng cho bị h i Ph m Thị H1 tổng cộng các hoản là: 15.698.000 đồng hấu trừ số tiền 15.000.000 đồng bị cáo T nộp t i Chi cục Thi hành án D n sự huyện T n Ch u, t nh T y Ninh theo các Biên lai thu tiền số 0003019 ngày 27-12-2023; Biên lai thu tiền số 0003021 ngày 02-01-2024. Bị cáo Lê Thị T có nghĩa vụ bồi th ờng tiếp cho bị h i Ph m Thị Hằng số tiền 698.000 đồng.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành, các biện pháp t pháp, án phí và quyền háng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 17-01-2024, bị cáo Lê Thị T làm đơn háng cáo xin giảm nhẹ hình ph t, đ ợc h ởng án treo.
Ngày 22-01-2024, bị h i chị Ph m Thị H1 làm đơn háng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét chuyển tội danh xử bị cáo T về tội “giết ng ời” và buộc bị cáo T bồi th ờng thêm 14.000.000 đồng.
T i phiên toà phúc thẩm, bị cáo T và bị h i H1 giữ nguyên yêu cầu háng cáo.
Đ i diện Viện iểm sát nh n d n t nh T y Ninh đề nghị: Chấp nhận háng cáo của bị cáo T, chấp nhận một phần háng cáo của bị h i H1, sửa bản án sơ thẩm theo h ớng xử ph t bị cáo T 06 tháng t cho h ởng án treo, ghi nhận bị cáo T chấp nhận bồi th ờng cho bị h i Hằng số tiền 14.000.000 đồng.
Người bào chữa cho bị cáo T – Luật sư Lê Thị Kiều D trình bày: Do nhận thức đ ợc hành vi của mình là sai, bị cáo T thật sự ăn năn hối cải, đã bồi th ờng toàn bộ cho ng ời bị h i và t i phiên tòa phúc thẩm tiếp tục đồng bồi th ờng số tiền bị h i yêu cầu là 14.000.000 đồng. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi c trú rõ ràng, đủ điều iện để đ ợc h ởng án treo để tự cải t o nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận háng cáo của bị cáo.
Bị cáo T hông tranh luận.
Bị h i H1 trình bày: Không đồng cho bị cáo T đ ợc h ởng án treo.
Lời nói sau c ng của bị cáo: bị cáo thấy mình sai mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo đ ợc h ởng án treo, để có điều iện tự cải t o và trị bệnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiên của đại diện viện kiểm sát, luật sư bào chữa cho bị cáo, ý kiến bị hại, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử, bị cáo và bị h i làm đơn háng cáo; đơn háng cáo của bị cáo, bị h i trong h n luật định nên đ ợc xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
Ngày 21-5-2023, t i quán n ớc và bán t p hóa tên “Xe đ p ơi” thuộc ấp H, xã T, huyện T, t nh T y Ninh, do có m u thuẫn với nhau tr ớc đó nên Lê Thị T đã d ng c y chày bằng gỗ là hung hí nguy hiểm, đánh chị Ph m Thị H1 g y th ơng tích với tỷ lệ tổn th ơng cơ thể g y nên hiện t i là 03%. Do đó Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Thị T về tội “Cố g y th ơng tích” theo quy định t i điểm a hoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Khi quyết định hình ph t cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nh : Bị cáo ph m tội lần đầu và thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng, thành hẩn hai báo, ăn năn hối cải; đã bồi th ờng thiệt h i; gia đình bị cáo có công với Cách m ng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đ ợc quy định t i điểm b, i, s hoản 1, hoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử ph t bị cáo T mức án án 06 tháng t là t ơng xứng với hành vi ph m tội của bị cáo.
Xét kháng cáo:
Kháng cáo của bị h i H1:
Bị h i H1 háng cáo cho rằng bị cáo T d ng hung hí nguy hiểm, đánh nhiều cái, liên tục vào đầu chị, vừa đánh bị cáo T vừa nói “ đánh cho mày chết”, bị cáo T thực hiện tội ph m đến c ng và ch dừng l i hi đ ợc mọi ng ời can ngăn nên hành vi của bị cáo T có dấu hiệu tội giết ng ời. Ngoài ra, chị H1 còn yêu cầu bị cáo T bồi th ờng tiền mất thu nhập là 14.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, ch vì những m u thuẫn nhỏ trong cách c xử, giao tiếp với nhau mà bị cáo T và bị h i H1 xẩy ra m u thuẫn dẫn đến xô xát, d ng hung hí nguy hiểm g y th ơng tích cho nhau. Nguyên nh n chính cũng có phần bị h i H1 bịa chuyện nói xấu gia đình bị cáo T; do vậy ng ời bị h i cũng có lỗi.
Bị h i H1 cho rằng bị cáo T đánh nhiều cái, liên tục vào đầu, vừa đánh bị cáo T vừa nói “đánh cho mày chết” nh ng qua xem xét Biên bản xem xét dấu vết trên th n thể lập ngày 01-8-2023 của bị h i H1 có 01 vết sẹo đã liền t i v ng tráng bên phải, ích th ớc (03 cm x 0,3cm) chị H1 hai vết th ơng trên do bị cáo T gây ra. Ngoài ra hông còn dấu vết nào hác. Và những ng ời có mặt t i quán “Xe đ p ơi” hi xảy ra sự việc hông ai nghe bị cáo T nói “đánh cho mày chết”. Căn cứ vào lời hai của bị cáo, bị h i, ng ời làm chứng, biên bản hiện tr ờng, bản ảnh thực nghiệm điều tra,…thì hành vi của bị cáo T thực hiện đối với bị h i H1 ph m về tội “Cố g y th ơng tích” theo quy định t i điểm a hoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về kháng cáo yêu cầu bị cáo T bồi th ờng tiền mất thu nhập là 14.000.000 đồng. T i phiên tòa phúc thẩm bị cáo T chấp nhận bồi th ờng nên ghi nhận.
Kháng cáo của bị cáo T:
Xét háng cáo của bị cáo T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Nguyên nh n dẫn đến bị cáo ph m tội cũng có phần lỗi của ng ời bị h i. Bị cáo ph m tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hông có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ngoài lần ph m tội này bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà n ớc t i địa ph ơng, bị cáo có nơi c trú rõ ràng; nếu hông bắt bị cáo đi chấp hành án thì cũng hông g y nguy hiểm cho xã hội. Căn cứ quy định t i Nghị quyết 02/2018 ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nh n d n tối cao, bị cáo có đủ điều iện để h ởng án treo, nên hông cần thiết phải cách ly bị cáo ra hỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo về địa ph ơng để giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Do đó, chấp nhận háng cáo của bị cáo, chấp nhận một phần háng cáo của bị h i H1, sửa bản án sơ thẩm.
Đề nghị của Đ i diện Viện iểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
Về án phí hình sự phúc thẩm: do háng cáo đ ợc chấp nhận nên bị cáo T phải chịu án phí theo luật định.
Các quyết định hác của bản án sơ thẩm hông có háng cáo, háng nghị đã có hiệu lực thi hành ể từ ngày hết thời h n háng cáo, háng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b hoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận háng cáo của bị cáo Lê Thị T và chấp nhận một phần háng cáo của bị h i Ph m Thị H1, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 05/2024/HS-ST ngày 09-01-2024 của Tòa án nh n d n huyện T n Ch u, t nh T y Ninh.
Căn cứ điểm a hoản 1 Điều 134; điểm b, i, s hoản 1; hoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị T ph m tội “Cố g y th ơng tích”.
Xử ph t bị cáo Lê Thị T 06 (sáu) tháng tù cho h ởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mừơi hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm là (02-4-2024).
Giao bị cáo Lê Thị T cho Ủy ban nh n d n xã T, huyện T, t nh T y Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong tr ờng hợp ng ời đ ợc h ởng án treo thay đổi nơi c trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, ng ời đ ợc h ởng án treo cố vi ph m nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ng ời đ ợc h ởng án treo phải chấp hành hình ph t t của bản án đã cho h ởng án treo.
2. Trách nhiệm d n sự: Căn cứ Điều 590 Bộ luật D n sự năm 2015
Buộc bị cáo Lê Thị T có nghĩa vụ bồi th ờng cho bị h i Ph m Thị H1 tổng cộng các hoản là: 29.698.000 (hai m ơi chín triệu sáu trăm chín m ơi tám nghìn) đồng hấu trừ số tiền 15.698.000 (M ời lăm triệu sáu trăm chín m ơi tám nghìn) đồng bị cáo T nộp t i Chi cục Thi hành án D n sự huyện T n Ch u, t nh T y Ninh theo các Biên lai thu tiền số 0003019 ngày 27-12-2023; Biên lai thu tiền số 0003021 ngày 02-01-2024; Biên lai thu tiền số 0002861 ngày 27-02-2024. Bị cáo Lê Thị T có nghĩa vụ bồi th ờng tiếp cho bị h i Ph m Thị Hằng số tiền 14.000.000 (m ời bốn triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ng ời đ ợc thi hành án cho đến hi thi hành xong tất cả các hoản tiền, hàng tháng ng ời phải thi hành án còn phải chịu hoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định t i hoản 2 Điều 468 của Bộ luật D n sự.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Lê Thị T phải chịu số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí d n sự sơ thẩm.
Ghi nhận bị cáo T đã nộp 500.000 đồng án phí theo biên lai thu số 0002861 ngày 27-02-2024 của Chi cục Thi hành án D n sự huyện T n Ch u, t nh T y Ninh.
- Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Lê Thị T hông phải chịu.
4. Các quyết định hác của bản án sơ thẩm hông có háng cáo, háng nghị đã có hiệu lực thi hành ể từ ngày hết thời h n háng cáo, háng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành ể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 (TANDTC); - VKSND. TTN; - TAND. huyện T n Ch u; - Công an huyện T n Ch u; - CC THADS. huyện T n Ch u; - Phòng KTNV. TATTN; - Bị cáo; - L u hồ sơ vụ án; - L u tập án HSPT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Lê Hữu Chiến |