vanban.org

Bản án 37/2024/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 30/01/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/01/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: tuyên bố bị cáo Tư ng Đăng T (tên gọi khác: Thế T1) phạm tội “Giết người”.

Về hình phạt: áp d ng điểm c, n khoản 1 Điều 3; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 4 ; điểm e khoản 1 Điều 4 của Bộ u t Hình s năm 1 , phạt bị cáo Tư ng Đăng T tù Chung thân, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 2 tháng 01 năm 200 . Về án phí hình s ph c th m: căn cứ khoản 2 Điều 13 của Bộ u t Tố t n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tưởng Đăng T - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: tuyên bố bị cáo Tư ng Đăng T (tên gọi khác: Thế T1) phạm tội “Giết người”.
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-PT
Ngày: 30-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Quốc Cường

Các Thẩm phán:

ông Nguyễn Văn Tào

ông Lê Văn Thường

- Thư ký phiên tòa: bà Văn Thị Mỹ Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên toà: ông Đặng Thọ Định - Kiểm sát viên.

Ngày 2 và 30 tháng 01 năm 2024 tại tr s Toà án nhân dân t nh Đ k L k. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng t ph c th m công khai v án hình s th ý số 3 2023 TL T-HS ngày 14 tháng năm 2023 đối với bị cáo Tư ng Đăng T (tên gọi khác: Thế T1) bị t về tội “Giết người”.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình s sơ th m số 1 2023 HSST ngày 13 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân t nh Đ k L k. Theo Quyết định đưa v án ra t số 4 7 2024 QĐXX T-HS ngày 04 tháng 01 năm 2024.

1. Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Tư ng Đăng T (tên gọi khác: Thế T1) sinh ngày 0 tháng 11 năm 1 77 tại t nh Nghệ An; nơi đăng ký HKTT và chỗ : thôn T, ã E, huyện K, t nh Đ k L k; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; trình độ văn hóa: 7 12; nghề nghiệp: không; con ông Tư ng Đăng K và con bà hạm Thị T2; tiền án, tiền s : không.

Nhân thân: Bản án hình s sơ th m số 1 HS-ST ngày 23 tháng 3 năm 1 , Tòa án nhân dân huyện Krông c, t nh Đ k L k phạt Tư ng Đăng T (tên gọi khác: Thế T1) 0 tháng tù về tội “Trộm c p tài sản” nhưng cho hư ng án treo.

Bị cáo bị b t ngày 2 tháng 01 năm 200 , hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Đ, có mặt tại phiên toà.

2. Người tham gia tố t ng:

2.1. Người bào chữa cho bị cáo:

- Lu t sư Trần Kh c T3 - Văn phòng L5, thuộc Đoàn u t sư Thành phố H; địa ch : tầng B, số nhà B N, phường D, qu n C, Thành phố Hà Nội.

- Lu t sư Nguyễn Duy B - Văn phòng u t sư D-T, thuộc Đoàn u t sư

Thành phố H; địa ch : số F đường T, khu phố T, phường T, thành phố D, t nh Bình Dương.

- Lu t sư Trần Đình D1 - Công ty L , thuộc Đoàn u t sư Thành phố H;

địa ch : số C N, hường A, qu n G, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Lu t sư Lê Xuân Anh và Lu t sư Nguyễn Văn L - Văn phòng L7,

thuộc Đoàn u t sư t nh Đ; địa ch : số D C, phường T, thành phố B, t nh Đ k L k.

- Lu t sư Nguyễn Văn Q và Lu t sư Lê Thị Bích H - Công ty L , thuộc

Đoàn u t sư Thành phố H; địa ch : phòng F tháp B, tòa nhà I, số D N, phường Đ, Qu n A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các Lu t sư Nguyễn Duy B, Trần Đình D1, Nguyễn Văn Q, Lê Xuân Anh P, Nguyễn Văn L, có mặt tại phiên toà.

2.2. Bị hại: chị Trần Thị Kim H1, sinh ngày 17 tháng 02 năm 1 3 (chết).

2.3. Người đại diện hợp pháp của bị hại: bà Trần Thị Kim H2, sinh năm

1 ( à chị ruột của bị hại); địa ch : số C Q, phường T, thành phố B, t nh Đ k L k.

.

(24 người àm chứng và Điều tra viên v ng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 ph t ngày 1 tháng 01 năm 200 , ông Trần hi H3 và bà Nguyễn Thị L1 (tr thôn T, ã E, huyện K, t nh Đ k L k) đi àm về nhà nhưng không thấy con gái à Trần Thị Kim H1, nên đã đi tìm thì phát hiện cháu H1 nằm bất t nh vườn cà phê (phía sau nhà) trong tình trạng không mặc quần, đầu chảy nhiều máu. Ông H3, bà L1 cùng mọi người đưa cháu H1 đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ. Sau đó chuyển ên Bệnh viện Đa khoa t nh Đ. Đến 23 giờ 10 ph t cùng ngày thì cháu H1 t vong.

Nh n được tin báo cháu Trần Thị Kim H1 bị giết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an t nh Đ đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm t thi và thu th p chứng cứ để àm rõ v án giết người, kết quả ác định:

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường v án à khu v c vườn cà phê nhà bà Tống Thị V, khu v c vườn cà phê và ung quanh ngôi nhà của ông Trần hi H3. Nạn nhân Trần Thị Kim H1 đã được đưa đi cấp cứu. Theo bà Nguyễn Thị L1 (mẹ nạn nhân) cung cấp đã phát hiện nạn nhân nằm vị trí trong khu vườn cà phê của gia đình bà V, cách phía sau ngôi nhà ông H3, bà L1 khoảng 50m. Tại vị trí cách nhà ông H3 àm trung tâm 50 m về phía Nam, tại vườn cà phê nhà bà V thấy đám máu dính thấm trên á và đất kích thước 20cm 10cm; cách đám máu này 13cm về hướng Đông thấy cành cây cà phê dài 11cm, đường kính 2, cm, một đầu chặt vát ch o đã khô; cách đám máu này 140cm về hướng Nam thấy đám máu dính trên á và đất rải rác kích thước 35cm 30cm; cạnh đám máu này về hướng Đông thấy cành cây cà phê dài 32cm, đường kính 2,5cm, hai đầu có vết gãy còn mới; cách đám máu này 70cm về hướng Nam thấy cành cây cà phê dài 34cm, đường kính 2,4cm, hai đầu gãy (3 đoạn cành cây cà phê khô gh p vào trùng khớp); cạnh đám máu này về hướng Tây thấy 01 c c đá kích thước 25cm 24cm 13cm dạng c c M2 rùa, kiểm tra cạnh thấy trầy ước còn mới kích thước cm 5cm; cách đám máu 170cm về hướng Nam thấy 01 quần dài màu anh đen ộn trái, tại t i quần trái có 5 tờ tiền oại 200 đồng và 2 miếng nh a ghi số 17 và 24 màu đen, quần dài 1cm, vòng b ng 0cm n t quần nh a đen m khỏi khuy, dây k o k o uống dưới, tại phần đũng hai ống quần thấy 01 quần ót màu anh ơ. Tại vị trí đám máu nhỏ giọt và quần thấy đám đất trầy ước kích thước 137cm 0cm; cách c c đá 3m về hướng Đông thấy đám đất in hằn mới kích thước 30cm 20cm.

Khám ngoài t thi thấy vùng trán phải nạn nhân n biến dạng, đầu tóc rối dính máu, đất và rác á cây cà phê; hai m t sưng nề bầm tím; trên ông mày phải, trái vết thương 4cm 0, cm sâu tới ương sọ, bờ m p nham nh ; tại vùng cổ trước hai bên bầm tím ây át da rải rác, trong đó có nhiều vết hình cung, hướng dây cung quay uống, dây cung dài 0, cm; tại vùng cổ bên phải có vết hằn ây át da nằm ngang không thẳng kích thước 4cm 0,4cm. Tại vùng cổ bên trái có 04 vết hằn ước da không thẳng gần song song, bầm tím rải rác dưới cằm hai bên, bên phải, bên trái đều có kích thước cm 5cm; tại thượng đòn bên trái có vết bầm tím nằm ngang kích thước 11cm 2,5cm, phía ngoài vết bầm tím có vết ước da sâu kích thước 1,7cm 1,5cm; ung quanh vết bầm tím và vết ước da này có vết bầm tím mờ kích thước 14cm cm; âm hộ chảy dịch nhầy màu tr ng đ c, hai bên dính dịch khô bóng màu tr ng đ c, ung quanh âm hộ không t máu, ỗ màng trinh tròn đều không phát hiện t máu; tại mặt trước trong hai đùi dính dấu vết máu quệt; đùi trái dính nhiều mảnh vỏ cà phê khô; hai mu bàn tay sưng nề bầm tím, tại mu bàn tay phải sát ngón nhẫn có vết ây át da kích thước 02cm 01cm.

Giải phẫu t thi thấy: t máu toàn bộ dưới da đầu; vỡ s p hộp sọ từ trần hốc m t phải ên đ nh ch m dài 22cm, h rộng nhất 2cm; vỡ hộp sọ từ trần hốc m t phải ên đ nh trán dài cm, h rộng nhất 2cm, vết vỡ hộp sọ di ệch 0,5cm; vùng trần hốc m t phải vỡ s p tách rời dài cm, tách rời 1cm thấy tổ chức não d p thoát ra ngoài; rách màng cứng vùng trần hốc m t phải, tổ chức não d p, qua vết vỡ thấy máu chảy ra; cổ bầm t máu sâu dưới da có kích thước 11cm 5cm; òng khí quản chứa đầy máu đặc ẫn máu đông thành sợi; t máu dưới da cơ vùng thượng đòn trái kích thước 11cm 3cm; phổi phải thuỳ giữa, phổi trái thuỳ dưới t máu uất huyết từng đám, các thuỳ uất hiện dạng chấm.

Tiến hành ác minh những người có mặt tại khu v c hiện trường thời điểm ảy ra v án và phát động quần ch ng nhân dân tố giác tội phạm, đến ngày 23 tháng 01 năm 200 , Cơ quan Cảnh sát điều tra đã nh n được thư giấu tên tố giác Tư ng Đăng Thế à người đã giết cháu Trần Thị Kim H1. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã triệu t p Tư ng Đăng T đến tr s àm việc để ác minh àm rõ.

Tại Cơ quan điều tra hồi 07 giờ ngày 2 tháng 01 năm 200 , Tư ng Đăng T khai nh n nội dung hành vi phạm tội như sau: khoảng 13 giờ ngày 1 tháng 01 năm 200 , sau khi đến nhà anh Trần Đình L2 uống rượu, Tư ng Đăng T đã đi e mô tô ch anh Trần Đình C về ngủ tại nhà anh C thôn T, ã E, huyện K, t nh Đ k L k, một c sau anh Nguyễn Bá Q1 (người cùng thôn) cũng đến ngủ tại nhà anh C. Đến 14 giờ cùng ngày, T t nh d y, ngh đến nhà anh Trần hi H3 (cùng thôn với anh C) mấy hôm trước phơi nhiều b p (ngô), đã đóng bao, ch c đã bán và có tiền cất trong nhà, nên nảy sinh ý định đến nhà anh H3 để ấy trộm tiền. Thấy anh C, anh Q1 đang ngủ, chị M đang dọn dẹp bếp. Tư ng Đăng T d y, đi bộ đến cổng nhà anh Trần hi H3 để trộm c p. Khi đến trước c a nhà anh H3, thấy cháu b khoảng 13 - 14 tuổi đang sân nhà đối diện với nhà anh H3 đang ngồi nhặt cà phê, thấy mấy con dê đang ăn á dâm b t bờ rào; có 5 - chiếc e đạp d ng gốc cây trong sân nhà anh H3. Thế vào trong nhà anh H3 thấy m c a, không có ai, nên T đi bên hông ra sau nhà để quan sát. Đ ng c này, cháu Trần Thị Kim H1 (con anh H3) đang nhặt cành cà phê khô gần bể nước nhìn thấy. Do Thế không đi c a chính, mà đi vào c a hông nhà, nên cháu H1 đã nghi ngờ, hỏi: “Sao chú vào nhà lại đi cửa sau, cháu về sẽ mách bố mẹ, chú vào lấy trộm”. Sợ bị ộ, T đã k o tay cháu H1 ôi ra sau nhà, cháu H1 kêu: “Buông tay ra”. Sợ có người đi ngoài đường phát hiện, nên T dùng tay bịt miệng cháu H1, k o cháu H1 ra vườn cây cà phê sau nhà. Cháu H1 vùng vẫy, n m cành cà phê níu ại, nên T nhặt 01 đoạn cành cây cà phê khô (dài khoảng 0cm, đường kính khoảng 2,5cm) đánh vào 02 mu bàn tay cháu H1 để cháu H1 buông tay ra khỏi các cành cà phê, àm cành cây cà phê bị gãy thành nhiều đoạn, còn tay kia kẹp cổ k o cháu H1 ra sau vườn cà phê cách m p sau nhà anh H3 khoảng 50m, T gi t mạnh tay k o cháu H1 ngã uống đất, dùng tay trái bịt miệng, tay phải bóp cổ cháu H1 đến khi cháu H1 nằm im. Thấy cháu H1 còn c a qu y, T nhặt c c đá (kích thước 25cm 24cm 13cm) cách chỗ cháu H1 nằm khoảng 03m đến n m vào đầu cháu H1. Thấy máu chảy nhiều, ngh cháu H1 đã chết, T ột quần cháu H1 vứt bên cạnh nhằm tạo hiện trường v án hiếp dâm để đánh ạc hướng điều tra. Sau đó, T đi ra đường ô cà phê rồi quay ại về nhà anh C và ên giường nằm tiếp ( c đó khoảng 14 giờ 30 ph t, không có ai trong nhà anh C biết T đã đi ra ngoài và quay về).

Hồi 07 giờ 30 ph t ngày 2 tháng 01 năm 200 , Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ghi ời khai bà Nguyễn Thị L1 (mẹ nạn nhân) để ác minh tính khách quan trong ời khai nh n tội của T, nội dung phản ánh: khoảng ngày 27 tháng 12 năm 2005, gia đình bà L1 có mua khoảng 1 tấn b p tươi về để cho heo, bò ăn. Đến khoảng ngày 31 tháng 12 năm 2005, bà bỏ b p ra sân phơi được khoảng 3 - 4 ngày, sau đó thì cất vào trong nhà. Đến khoảng ngày 12 tháng 01 năm 200 , bà có đưa b p ra sân phơi một ngày nữa rồi đem vào cất để dành cho heo, bò, dê ăn dần.

Ngày 27 tháng 01 năm 200 , Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an t nh Đ đã tổ chức cho Tư ng Đăng T th c nghiệm điều tra tại hiện trường theo ời nh n tội của bị cáo, kết quả:

- Khi th c nghiệm đứng tại khu v c trước c a nhà nạn nhân, Tư ng Đăng T đã ác định vị trí 5 - chiếc e đạp d ng bên gốc cây và nhìn thấy cháu G đang ngồi nhặt cà phê trước sân nhà đối diện của nhà nạn nhân.

- Khi th c nghiệm điều tra tại khu v c sau vườn cà phê nhà nạn nhân (nơi phát hiện nạn nhân bị giết), Tư ng Đăng T đã diễn tả các hành vi dùng tay bịt miệng, đánh vào mu bàn tay, kẹp cổ k o nạn nhân ra sau vườn cà phê, k o nạn nhân ngã uống đất, bóp cổ nạn nhân, nhặt c c đá n m vào đầu nạn nhân; ột quần nạn nhân vứt bên cạnh tạo hiện trường giả v hiếp dâm. Kết quả th c nghiệm phù hợp với các dấu vết, v t chứng để ại hiện trường v án, với cơ chế hình thành dấu vết trên thi thể nạn nhân.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an t nh Đ tiến hành ấy ời khai của những người àm chứng, c thể:

Chị Nguyễn Thị G1 (đối diện nhà nạn nhân) khai: khoảng 14 giờ, chị G1 có ấy rổ ra sân ngồi ượm cà phê. L c này, thấy có 05 người đàn bà đi ượm cà phê vào nhà nạn nhân ấy 05 chiếc e đạp d ng gốc cây trước nhà ông H3 (bố nạn nhân). Do không thấy ai để trả tiền trông e, nên đã đưa cho G1 và nhờ đưa ại cho nạn nhân.

Chị Trần Thị N và chị Đỗ Thị Y khai: các chị à người đi mót cà phê, có g i e đạp tại nhà anh H3 (bố nạn nhân). Sau khi mót cà phê quay ại nhà ông H3 ấy e đạp thì không thấy ai, đã ấy 5 chiếc e đạp d ng gốc cây trước nhà ông H3. Do không thấy ai nhà nên đã đưa cho cháu G1 và nhờ đưa ại cho nạn nhân.

Chị Nguyễn Thị Hồng N1 ( à người đi chăn bò đã đi qua nhà nạn nhân) khai: thời điểm ảy ra v án à khi đi chăn bò ngang qua đã nhìn thấy trong sân nhà nạn nhân có để 5 - chiếc e đạp, thấy chị G1 đang ngồi sân nhà đối diện với nhà của nạn nhân.

Bà han Thị M1 khai: khoảng hơn 12 giờ 30 ph t ngày 1 tháng 01 năm 200 , khi bốn mẹ con đang ăn cơm và em phim thì Tư ng Đăng T ch ông C về. Thế mặc quần rêu dài, oại quần hộp nhiều t i, áo thun đen cộc tay, bà không để ý T có đội mũ không và Thế mặc đồ này cho đến t n ngày phát tang cháu H1. Sau đó, T và ông C cùng ngủ trên giường ngoài phòng khách, át sau ông C đi vào trong. Khi các con của bà đi học, bà dọn nhà trên, c này T vẫn ngủ. Sau đó, bà r a ch n bát bếp sau nhà (ước chừng khoảng 30 ph t), khoảng thời gian này bà không quan sát được phía nhà trên do bị vướng tường. R a bát ong bà có đi ên uống, qua ại trong nhà thì vẫn thấy T ngủ. Q1 d y và đi về được một c thì T d y đi từ nhà trên qua hông nhà bếp đi ra nhà t m. L c này, bà M1 đang giặt đồ trước c a nhà bếp nhưng không biết mấy giờ.

Bà Nguyễn Thị L3 khai: khoảng 14 giờ ngày 1 tháng 01 năm 200 , bà L3 đi mót cà phê. Khi bà đi ra thì nhìn vuông góc sang phía bên đường sân đội thấy Tư ng Đăng T đi từ hướng nhà C, M1 đi ên. T tiếp t c đi ra ngoài theo hướng nhà H3, L1. Bà thấy rõ mặt T, đội mũ tai bèo nhưng không nhớ T mặc quần áo như thế nào. Bà đi từ phía ngõ nhà qua sân đội, sang đường phía bên kia sân đội và tiếp t c đi theo sau T (cách khoảng 50m). Khi đi đến nhà ông C1 thì thấy T rẽ vào nhà H3, L1. Còn bà đi uống đường ô và đi vào vườn cà phê nhà V, V1 để mót cà phê, khi được gần 1kg thì bà nghe thấy tiếng h t to của b gái trong nhà H3, nhưng không biết ai. Đang ngồi ượm dưới gốc cà phê thì nghe sột soạt và tâm ý để ý em T àm gì, thì thấy T đầu không đội mũ, tay kẹp cổ cháu H1 k o từ hiên nhà H3 ra sau giữa vườn cà phê nhà V về hướng bà đang ngồi. Bà khom người tiến thêm mấy gốc cà phê nữa, cách 2 - 3 gốc thì thấy T đang đánh cháu H1. T k o và đặt cháu H1 nằm ng a uống, T ấy một cây g y đ p vào đầu H1 rồi T đi oanh quanh nhặt một hòn đá và đ p vào đầu cháu H1. Bà sợ quá nên nh m m t ại, c sau nhìn thấy cháu H1 vẫn nằm ng a, đầu quay về phía nhà H3, T đã ột quần cháu H1, không rõ quần áo gì, còn quần ót trên người. Sau khi đánh cháu H1, T đi hướng vào nhà H3, ch o ra đường ô rồi đi đâu không rõ. Bà sợ nên ngồi trên cây một c mới uống nhặt t i của mình, đi chỗ khác ngồi ngh gần tối mới dám về nhà. Khi được chính quyền địa phương phát động tố giác tội phạm, bà đã viết thư tố giác Thế T1 à người giết cháu H1, nhưng không dám đứng ra àm chứng vì sợ bị trả thù.

Ông Lê Hồng V2 (chồng bà L3) khai: tối ngày 1 tháng 01 năm 200 , bà L3 có kể cho ông V2 biết việc đã nhìn thấy T k o cháu H1 ra vườn cà phê, bóp cổ cháu H1, ấy c c đá đ p vào đầu cháu H1. Ông V2 đã khuyên bà L3 không nói gì vì sợ bị trả thù.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 107/KLPY ngày 07 tháng 3 năm 2006, Tổ chức giám định pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận:

Nguyên nhân dẫn đến t vong của cháu H1 à do đa thương tích sọ não, cổ, ng c, dẫn đến choáng không hồi ph c sau chấn thương.

Tại Bản giám định pháp y bổ sung số 1103/KLPY ngày 28 tháng 8 năm 2006, Tổ chức giám định pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận:

X t nghiệm chất nhầy màu tr ng đ c đã thu giữ ngày 1 tháng 01 năm 200 trên bộ ph n sinh d c t thi Trần Thị Kim H1 không ghi nh n có hình ảnh tinh trùng và tế bào, đây à dịch sinh ý thông thường. hù hợp với ời khai nh n tội của Tư ng Đăng T trong các ngày 2 tháng 01 năm 200 , ngày 2 tháng 01 năm 200 ; ngày 07 tháng 3 năm 200 ; ngày 0 tháng 4 năm 200 và ngày 12 tháng 4 năm 200 (trước khi có kết quả giám định pháp y bổ sung ngày 2 tháng năm 200 ) ác định Tư ng Đăng T ch th c hiện hành vi giết nạn nhân, không hiếp dâm nạn nhân. Sau khi giết nạn nhân, T ột quần dài, quần ót để tạo d ng hiện trường v hiếp dâm để nhằm đánh ạc hướng điều tra.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2008/HSST ngày 04 tháng 7 năm 2008, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk quyết định:

Áp d ng điểm c, n khoản 1 Điều 3; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 4 ; điểm e khoản 1 Điều 4 của Bộ u t Hình s năm 1 , phạt: Tư ng Đăng T tù Chung thân về tội “Giết người”.

Sau khi t sơ th m, bị cáo T kháng cáo kêu oan; người đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường dân s và đề nghị t hình đối với bị cáo.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 56/2008/HSPT ngày 26 tháng 11 năm 2008, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng quyết định:

Không chấp nh n kháng cáo của bị cáo và của người đại diện hợp pháp của bị hại; giữ nguyên bản án sơ th m.

Tại Quyết định Giám đốc thẩm số 16/2020/HS-GĐT ngày 22 tháng 9 năm 2020, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định:

Hủy Bản án hình s ph c th m số 5 200 HS T ngày 2 tháng 11 năm 200 của Tòa ph c th m Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng và Bản án hình s sơ th m số 101 200 HSST ngày 04 tháng 7 năm 200 của Toà án nhân dân t nh Đ k L k để điều tra ại theo đ ng quy định của pháp u t.

Kết quả điều tra lại của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C2 (C02):

Ngày 07 tháng 5 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C2 tiến hành th c nghiệm khả năng quan sát của bà Nguyễn Thị L3: cho người giả định Tư ng Đăng T đi từ đường chính rẽ vào nhà nạn nhân, kết quả với khoảng cách, vị trí và góc nhìn của bà L3 khi th c nghiệm đã nhìn thấy và nh n diện được đ ng người giả định đi vào nhà nạn nhân.

Ngày 0 tháng 4 năm 2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C2 đã th c nghiệm điều tra về khả năng s d ng thời gian gây án và diễn biến hành vi phạm tội theo ời khai nh n tội của Tư ng Đăng T, kết quả: đo quãng đường Tư ng Đăng T đi từ nhà bà han Thị M1 đến nhà nạn nhân ác định à 432m, người đi bộ trong điều kiện bình thường hết khoảng 5 ph t 5 giây. Thời gian từ khi T đi bộ từ nhà ông C đến nhà nạn nhân th c hiện toàn bộ các hành vi phạm tội rồi quay tr ại nhà ông C hết 20 ph t 10 giây.

Tại Văn bản số 230 CV-KHHS ngày 27 tháng 7 năm 2021, V3 - Bộ C2 nêu rõ: nội dung Tư ng Đăng T khai đã cầm cảnh cây cà phê đánh, dùng tay k o ngã, bóp cổ, dùng đá n m vào đầu, ột trái chiếc quần dài, quần ót của nạn nhân, phù hợp với cơ chế hình thành dấu vết để ại trên t thi (t máu vùng ng c trái, vỡ ương hộp sọ, ây át da vùng vai trái, t máu vùng cổ); phù hợp với dấu vết, v t chứng để ại hiện trường v án (khám nghiệm hiện trường đã thu giữ 3 đoạn cành cây cà phê khô bị gãy; 01 c c đá có kích thước 25cm 24cm 13cm, quần dài, quần ót của nạn nhân và dấu vết máu).

Quá trình điều tra ban đầu, Tư ng Đăng T đã khai nh n hành vi phạm tội. Tuy nhiên, từ ngày 05 tháng 5 năm 200 đến nay, T kêu oan, không nh n tội và trình bày ý do trước đó nh n tội à vì bị Điều tra viên đánh, p phải nh n tội. Thời điểm từ 13 giờ đến 1 giờ ngày 1 tháng 01 năm 200 , T ngủ trong nhà bà han Thị M1 nên có chứng cứ ngoại phạm.

Tại Cáo trạng số 4043/CT-VKSTC-V2 ngày 25 tháng 4 năm 2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao truy tố: Tưởng Đăng Thế về tội “Giết người” theo các điểm c, n khoản 1 Điều 93 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 13 tháng 7 năm 2023, Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Về tội danh: tuyên bố bị cáo Tư ng Đăng T (tên gọi khác: Thế T1) phạm tội “Giết người”.

Về hình phạt: áp d ng điểm c, n khoản 1 Điều 3; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 4 ; điểm e khoản 1 Điều 4 của Bộ u t Hình s năm 1 , phạt bị cáo Tư ng Đăng T tù Chung thân, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 2 tháng 01 năm 200 .

Ngoài ra, bản án sơ th m còn quyết định về trách nhiệm bồi thường dân s , án phí HSST và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp u t.

Ngày 15 tháng 7 năm 2023, Tư ng Đăng T kháng cáo kêu oan.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Tư ng Đăng T (tên gọi khác: Thế T1) trình bày giữ nguyên nội dung kháng cáo kêu oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu:

Về tố t ng: kháng cáo của bị cáo Tư ng Đăng T (tên gọi khác: Thế T1) à trong thời hạn u t định.

Về nội dung:

Quá trình điều tra ban đầu, Tư ng Đăng T đã khai nh n hành vi phạm tội. Tuy nhiên, từ ngày 05 tháng 5 năm 200 đến nay T kêu oan, không nh n tội và trình bày ý do trước đó nh n tội à vì bị Điều tra viên đánh, p phải nh n tội, thời điểm từ 13 giờ đến 1 giờ ngày 1 tháng 01 năm 200 Thế ngủ trong nhà bà han Thị M1 nên có chứng cứ ngoại phạm. Nhưng căn cứ kết quả điều tra các giai đoạn tố t ng, ời nh n tội của bị can Tư ng Đăng T tại Cơ quan điều tra phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm t thi, với kết quả giám định về cơ chế hình thành dấu vết trên thi thể nạn nhân, v t chứng thu giữ trong v án; phù hợp với ời khai của các nhân chứng đi mót cà phê đã g i e đạp nhà nạn nhân, các nhân chứng đi chăn bò qua khu v c nhà nạn nhân và nhân chứng Nguyễn Thị G1 ác định thời điểm ảy ra v án nhân chứng G1 đang ngồi nhà đối diện nhà nạn nhân, trước c a nhà N2 có 5 - chiếc e đạp d ng gốc cây (b t c số 1 5,1 , 244, 245); phù hợp với ời khai của nhân chứng Nguyễn Thị L3 ác định đã tr c tiếp nhìn thấy Tư ng Đăng T đi vào khu v c trước c a nhà nạn nhân, th c hiện hành vi giết nạn nhân tại khu v c phía sau nhà nạn nhân (b t c số 257, 25 ;773-77 ); phù hợp với ời khai của ông Lê Hồng V2 và các nhân chứng gián tiếp khác à những người đã nghe bà L3 kể ại s việc nhìn thấy T giết người, đã nghe T tâm s về việc T đã giết người (b t c số 777- 780;1053-105 ). Việc bị cáo Tư ng Đăng T kêu oan và khai à mình có chứng cứ ngoại phạm à không có cơ s , nhằm trốn tránh pháp u t.

Từ khi tiếp nh n tin báo cháu H1 bị sát hại, Cơ quan CSĐT đã tiến hành ác minh, giải quyết theo đ ng quy định của Bộ u t Tố t ng hình s . Bị cáo cho rằng bị p cung, đánh đ p nên mới trình bày theo ý chí của Điều tra viên à không có căn cứ, đây ch à ời khai một chiều của bị cáo. Trong quá trình điều tra, ngoài các Biên bản hỏi cung thì bị cáo còn có nhiều Bản t khai t trình bày về hành vi phạm tội của mình; đồng chí Đoàn Quyết T4 à cán bộ Trại giam khi thấy T bị bầm tím nhỏ trên cơ thể đã p Biên bản ghi nh n trên người T có một số vết bầm mà không mô tả tình trạng vết bầm như thế nào. Bị cáo nói bị Điều tra viên đánh nhưng không yêu cầu cán bộ Y tế kiểm tra, bị cáo vẫn sinh hoạt bình thường cùng các can phạm khác, nên việc cho rằng bị cáo bị đánh đến mức nh n tội giết người à không có căn cứ. Quá trình điều tra v án có rất nhiều Điều tra viên tham gia nhưng không nh n được bất kỳ yêu cầu thay đổi Điều tra viên nào. Có nhiều Biên bản ấy ời khai có Lu t sư bào chữa cho bị cáo, Kiểm sát viên tham gia nhưng bị cáo vẫn ác định ời khai nh n tội à đ ng và không bị ai p cung, dùng hình. Khi th c nghiệm điều tra bị cáo đi bộ từ nhà bà M1 đến nhà anh H3, có rất nhiều người quen của bị cáo tham gia chứng kiến nhưng bị cáo không kêu oan mà vẫn t mình tiến hành diễn ại toàn bộ hành vi phạm tội đ ng như bị cáo đã khai.

V án đã được điều tra, truy tố, t rất nhiều ần; các cơ quan tiến hành tố t ng các cấp đã tiến hành điều tra, ác minh v án một cách toàn diện, đầy đủ, khách quan theo đ ng quy định của pháp u t. Những nội dung mà bị cáo đã trình bày trong Đơn kháng cáo cũng đã được em t, phân tích, đánh giá trong suốt quá trình tiến hành tố t ng đối với v án.

Do đó, việc Toà án cấp sơ th m t đối với bị cáo Tư ng Đăng T về tội “Giết người” theo điểm c, n khoản 1 Điều 3 Bộ u t Hình s năm 1

à có cơ s , đ ng pháp u t, không oan và phạt tù chung thân đối với bị cáo à tương ứng, phù hợp. Sau khi t sơ th m không phát sinh tình tiết nào mới nên không có cơ s để chấp nh n kháng cáo kêu oan của bị cáo Tư ng Đăng T.

Vì v y, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng th c hành quyền công tố tại phiên tòa hôm nay, tôi đề nghị Hội đồng t ph c th m căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 35 Bộ u t Tố t ng hình s không chấp nh n kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ th m.

Các Lu t sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng t hoãn phiên toà vì ý do tất cả người àm chứng v ng mặt tại phiên.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Quá trình điều tra, điều tra ại sau khi t giám đốc th m, người àm chứng đã được Cơ quan điều tra triệu t p để àm việc và người àm chứng đã có ời khai, Bản t khai rõ ràng, đầy đủ. Tại phiên toà t ph c th m hôm nay, tất cả người àm chứng v ng mặt. Các Lu t sư đề nghị hoãn phiên toà để triệu t p người àm chứng đến phiên toà. Hội đồng t thấy rằng: việc v ng mặt của người àm chứng không ảnh hư ng đến việc t v án, yêu cầu của các Lu t sư à không cần thiết. Do đó, Hội đồng t quyết định tiến hành t v ng mặt người àm chứng.

Sau khi t sơ th m ngày 13 tháng 7 năm 2023, bị cáo Tư ng Đăng T kháng cáo kêu oan. Đơn kháng cáo của bị cáo à trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ u t Tố t ng hình s . Do đó, Hội đồng t quyết định đưa v án ra t ph c th m.

Tại phiên tòa t ph c th m hôm nay, bị cáo T giữ nguyên kháng cáo kêu oan. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên toà u n tội, ác định bị cáo phạm tội “Giết người” không oan và đề nghị Hội đồng t ph c th m căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 35 của Bộ u t Tố t ng hình s : không chấp nh n kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ th m.

Tại phần tranh t ng, các Lu t sư bào chữa cho bị cáo cho rằng: Toà án cấp sơ th m kết án Tư ng Đăng T về tội “Giết người” à không phù hợp với th c tế khách quan, không phù hợp với diễn biến của v án, c thể:

Thứ nhất: quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã vi phạm thủ t c tố t ng nghiêm trọng, dẫn đến việc àm sai ệch kết quả điều tra. Tư ng Đăng T không hề đến Cơ quan Cảnh sát điều tra để t th , mà th c tế bị cáo bị áp giải đưa đi. Do đó, việc Cơ quan Cảnh sát điều tra p Biên bản t th à vi phạm Điều 102 của Bộ u t Tố t ng hình s . Quá trình điều tra, bị cáo đã bị cán bộ điều tra đánh đ p, dùng nh c hình, nên mới khai báo theo nội dung cán bộ điều tra hướng dẫn. Đến ngày 12 tháng 4 năm 200 , khi cán bộ điều tra đưa bị cáo ra àm việc, bị cáo tiếp t c bị đánh và được cán bộ Trại giam àm Bản tường trình báo cáo s việc.

Thứ hai: hiện trường v án không đ ng như bản án sơ th m đã viện dẫn, có quá nhiều mâu thuẫn. Nếu theo Kết u n điều tra, Cáo trạng và bản án sơ th m, thì đám máu dính thấm trên á và đất kích thước 20cm 10cm à nơi nằm cuối cùng của cháu H1 và à nơi cháu H1 bị đ p đá vào đầu. V y nhưng, theo Biên bản khám nghiệm hiện trường thì không hề có c c đá đây và cách đám máu này về phía Nam 140cm thấy tiếp 01 đám máu dính trên á và đất rải rác kích thước 35cm 30cm. Cách đám máu này về hướng Nam 170cm thấy quần của nạn nhân và có đám máu nhỏ giọt. Tại vị trí đám máu nhỏ giọt và quần của nạn nhân thấy đám đất trầy ước kích thước 137cm 0cm. Như v y, cách đám máu ban đầu (nơi cháu H1 nằm) cho đến nơi nạn nhân bị c i quần và có đám máu nhỏ giọt có khoảng cách à 20cm + 140cm + 30cm + 170cm = 3 0cm (3, m). Rõ ràng, tại đây đã có một cuộc v t ộn giữa hung thủ và nạn nhân và tại đây nạn nhân đã bị đánh chảy máu. Như v y, hung thủ đã đè nạn nhân, đánh nạn nhân b t đầu từ phía vườn cà phê nhà bà Tống Thị V tr vào nhà của nạn nhân theo hướng N3 - B c theo như hiện trường đã thể hiện, chứ không phải à đánh từ nhà nạn nhân đánh ra tới vườn cà phê nhà bà V theo hướng B c - Nam theo như Kết u n điều tra, Cáo trạng và bản án sơ th m đã quy kết. Đồng thời, bản án sơ th m mô tả khi nạn nhân bị Tư ng Đăng T ôi đi, tay của nạn nhân có bám vào các cành cây cà phê để cưỡng ại nhưng kết quả khám nghiệm hiện trường không hề thấy cành cây cà phê bị gãy hay á cà phê tươi bị r ng uống. Như v y, hành vi phạm tội của bị cáo được mô tả trong v án ngược ại với hiện trường v án, không phù hợp với dấu vết để ại trên thân thể của nạn nhân, thì rõ ràng Tư ng Đăng T không phải à người đã th c hiện v án này.

Theo bản ản, bản vẽ hiện trường cho thấy ung quanh nơi nạn nhân nằm khoản 20m2 có nhiều điểm dính máu, trầy ước đất, cành cây gãy cho thấy giữa nạn nhân và hung thủ đã có s giằng co, chống c quyết iệt, không như ời khai của bà L3 và Kết u n điều tra. Lời khai của bà L3 và ời khai nh n tội ban đầu của T về ộ trình đi từ đường đất từ nhà bà M1 đến nhà nạn nhân à không phù hợp, có dấu hiệu hướng cung, đọc cho viết.

Ngoài ra, hiện trường v án thể hiện có việc cháu H1 bị hiếp dâm nhưng chưa được điều tra àm rõ. C thể, việc cháu H1 bị ột quần, âm hộ chảy dịch nhầy màu tr ng đ c, hai bên dính dịch khô bóng màu tr ng đ c, chất dịch này cũng được phát hiện hõm nách của bị hại; đầu tóc bị hại bê bết máu và đất, á cà phê.

Đối với chất dịch nhầy tr ng đ c hõm nách của bị hại (nghi à tinh trùng) không công khai kết quả giám định à có dấu hiệu àm sai ệch hồ sơ v án.

Thứ ba:người àm chứng à bà Nguyễn Thị L3 có mâu thuẫn với bị cáo từ trước, trong ời khai của bà L3 cũng hết sức vô ý, bất nhất. Bà L3 khẳng định đã nhìn thấy bị cáo giết cháu H1 nhưng theo kết quả th c nghiệm điều tra thì bà L3 không nhìn thấy được gì, không ác định được vị trí nơi s việc ảy ra. Một số nội dung khác bà L3 khai không phù hợp với các tình tiết của v án như vẫn thấy cháu H1 mặc quần ót, trong khi th c tế cháu H1 đã bị ột quần; hay khoảng cách bà nhìn thấy s việc cũng iên t c thay đổi. Bản thân gia đình bà L3 và bị cáo trước đây đã có mâu thuẫn.

Thứ tư: trước đây, Tư ng Đăng T khai nh n tội à do bị p cung, hành hạ, th m chí Điều tra viên đọc cho bị cáo ghi theo ý chí của Điều tra viên, chứ không phải của bị cáo. Bị cáo bị nh c hình à có th t, vì có Biên bản thể hiện bị cáo bị đau chân.

Suốt ngày và đêm 25 tháng 01 năm 200 bị cáo bị Điều tra viên hù doạ còng tay vào c a sổ, chân bàn, chân ghế và dùng tay, dùi cui đánh đ p nên ngày 2 tháng 01 năm 200 bị cáo T mới iều nh n tội để không bị đánh. Điều này được thể hiện ngày 27 tháng 01 năm 200 cán bộ Công an ốc nách bị cáo uống hiện trường.

Bị cáo T kêu oan ngay từ ngày 27 tháng 01 năm 200 nhưng không được tiếp nh n, em t mà còn bị đánh đ p, chuyển trại giam.

Thứ năm: Tư ng Đăng T có chứng cứ ngoại phạm. Bà han Thị M1 và một số người tại nhà bà M1 chứng kiến bị cáo ngủ tại nhà bà M1 từ 13 giờ đến hơn 1 giờ ngày 1 tháng 01 năm 200 . Bộ quần áo bị cáo vẫn mặc từ ngày 1 tháng 01 năm 200 cho đến hai, ba ngày sau không thay đổi. Trên người bị cáo trước và sau khi ngủ d y không có gì ạ. Nếu bị cáo đã giết cháu Trần Thị Kim H1 thì không thể đầu tóc, thân thể, quần áo của bị cáo vẫn sạch sẽ bình thường như chưa có chuyện gì ảy ra.

Cơ quan điều tra tách nhóm 5 người àm chứng gồm N2, H4, M1, T5, T6 gặp nhau tại một thời điểm nhà bà M1 thành hai nhóm, hai thời điểm chứng kiến để ấy thời gian từ 14 giờ đến 14 giờ 30 ph t à 30 ph t T đi trộm và giết cháu H1. Th c tế 30 ph t này 5 người àm chứng nêu trên đều thấy T ngủ tại nhà bà M1. Hơn nữa, Cơ quan điều tra cho rằng bà M1 r a ch n hết khoảng 30 ph t và thời gian này bà M1 không thấy T ngủ à thiếu chính ác.

Thứ sáu: ời khai trước đây của những người cùng giam với Tư ng Đăng T có dấu hiệu mớm cung. Đó à hạm Văn T7, Y hước B1 và Nguyễn hước L4 đều à bị can trong các v án do Điều tra viên Dương Thế B2 tr c tiếp điều tra. Bị cáo cũng không hề tâm s gì với họ, ch nói à mình bị oan.

Thứ bảy: tất cả các căn cứ buộc tội Tư ng Đăng T đều yếu và có nhiều chứng cứ thu th p sai tố t ng như việc ấy ý kiến tố giác không đ ng trình t , không đ ng pháp u t, m c đích động cơ phạm tội của bị cáo à chưa rõ ràng, thời gian gây án như bản án sơ th m kết u n không đủ để bị cáo th c hiện hành vi phạm tội; ời khai của cháu Nguyễn Thị G1 ngồi nhặt cà phê đối diện với nhà bị hại nhưng không nhìn thấy bị cáo và cả đoạn đường đi và về không ai thấy bị cáo, ngoài bà Nguyễn Thị L3 à vô ý.

Với những ý ẽ viện dẫn nêu trên, các Lu t sư đề nghị Hội đồng t

ph c th m căn cứ Điều 32 của Bộ u t Tố t ng hình s . Tuyên bị cáo Tư ng Đăng T không phạm tội “Giết người” và trả t do cho bị cáo ngay tại phiên toà. Đồng thời, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp t c điều tra để tìm ra hung thủ đích th c đã giết hại cháu Trần Thị Kim H1 để

ý theo quy định của pháp u t.

Bị cáo đồng ý với ời bào chữa của các Lu t sư và bổ sung: bị cáo không giết cháu Trần Thị Kim H1 nên bị cáo không có tội. Đề nghị Hội đồng t tuyên bị cáo không phạm tội và trả t do ngay cho bị cáo.

Nói ời sau cùng, bị cáo đề nghị được chấp nh n kháng cáo.

X t kháng cáo của bị cáo:

Về tội danh:

Tư ng Đăng T khẳng định trong khoảng thời gian từ 13 giờ đến 1 giờ ngày 1 tháng 01 năm 200 , bị cáo ngủ tại nhà ông Trần Đình C và có rất nhiều người chứng kiến. Bị cáo không có mặt tại nơi ảy ra v án, không th c hiện hành vi giết cháu Trần Thị Kim H1 như bản án sơ th m đã kết u n.

X t thấy: ời khai này của Tư ng Đăng Thế l không có căn cứ, việc bị cáo kêu oan và ác định có chứng cứ ngoại phạm à không có cơ s , nhằm trốn tránh pháp u t, b i ẽ: tất cả các ời khai của những người àm chứng à các ông, bà han Thị M1, Trần Đình C, Trần Thị H5, Nguyễn Bá Q1, Trần Đình T8, Nguyễn Thiện T , Nguyễn Quang H , Lê Thị N4 ( à những người đến nhà bà han Thị M1 vào ngày ảy ra v án) đều ác định: thời điểm trước 14 giờ và sau 14 giờ 30 ph t ngày 1 tháng 01 năm 200 , họ thấy Tư ng Đăng T có mặt tại nhà bà han Thị M1. Không có người àm chứng nào ác nh n từ 14 giờ đến 14 giờ 30 ph t ngày 1 tháng 01 năm 200 Tư ng Đăng T đang ngủ hay có mặt tại nhà bà M1. Bà han Thị M1 khai: khoảng 14 giờ, bà b t đầu r a ch n bát nhà bếp hết khoảng 30 ph t. Khoảng thời gian này bà không quan sát được phía nhà trên do bị vướng tường. R a bát ong bà có đi ên uống, qua ại trong nhà thì vẫn thấy ba người đang ngủ đó à Tư ng Đăng T, ông Trần Đình C và anh Nguyễn Bá Q1, ngoài ra không có ai. Như v y, khoảng thời gian từ 14 giờ đến 14 giờ 30 ph t, bà M1 không quan sát thấy được Tư ng Đăng T, vì bị che khuất b i bức tường ngăn giữa nhà trên với nhà bếp. Đây à khoảng thời gian ác định cháu Trần Thị Kim H1 bị giết.

Lời khai nh n tội ban đầu của Tư ng Đăng T có nội dung: khoảng 13 giờ ngày 1 tháng 01 năm 200 , T ch ông Trần Đình C về ngủ tại nhà ông C. Một c sau anh Nguyễn Bá Q1 cũng đến ngủ tại nhà ông C. Đến 14 giờ cùng ngày, bị cáo t nh d y, ngh đến nhà ông Trần hi H3 mấy hôm trước phơi nhiều b p, ch c đã bán và có tiền cất trong nhà, nên nảy sinh ý định đến nhà ông H3 để ấy trộm tiền. Thấy ông C, anh Q1 đang ngủ, bà M1 đang dọn dẹp bếp, bị cáo đã d y, đi bộ đến nhà ông H3 để trộm c p. Khi đến trước cổng nhà ông H3, thấy cháu b khoảng 13 - 14 tuổi đang sân nhà đối diện với nhà ông H3 đang ngồi nhặt cà phê, thấy mấy con dê đang ăn á dâm b t bờ rào; có 5 - chiếc e đạp d ng gốc cây trong sân nhà ông H3. Bị cáo đi bên hông ra sau nhà thì gặp cháu Trần Thị Kim H1 à con ông H3 đang nhặt cành cà phê gần bể nước, cháu H1 nghi ngờ và hỏi bị cáo “Sao chú vào nhà lại đi cửa sau, cháu về sẽ mách bố mẹ, chú vào lấy trộm”. Sợ bị ộ, bị cáo đã k o tay cháu H1 ôi ra sau nhà, cháu H1 kêu ên, thì bị cáo dùng tay bịt miệng cháu H1, k o cháu H1 ra vườn cà phê sau nhà. Cháu H1 vùng vẫy, n m cành cà phê níu ại, nên bị cáo nhặt 01 đoạn cành cây cà phê khô đánh vào 02 mu bàn tay cháu H1 để cháu H1 buông tay ra, àm cành cây cà phê bị gãy nhiều đoạn; còn tay kia kẹp cổ k o cháu H1 ra sau vườn cà phê rồi gi t mạnh tay, k o cháu H1 ngã uống đất, dùng tay trái bịt miệng, tay phải bóp cổ cháu H1 đến khi cháu H1 nằm im. Thấy cháu H1 còn c a qu y, bị cáo nhặt c c đá n m vào đầu cháu H1. Sau đó, bị cáo đã ột quần cháu H1 vứt bên cạnh, nhằm tạo hiện trường v án hiếp dâm để đánh ạc hướng Cơ quan điều tra rồi bị cáo đi ra đường ô cà phê quay về nhà ông C và ên giường nằm tiếp. L c đó khoảng 14 giờ 30 ph t, không có ai trong nhà ông C biết bị cáo đã đi ra ngoài và quay về (b t c số 407- 41 ; số 427-438).

Như v y, ời khai nêu trên của Tư ng Đăng Thế à có cơ s , m c đích của bị cáo à tìm đến nhà ông H3, bà L1 để trộm c p tài sản, vì đã để ý từ trước. Lời khai này phù hợp với ời khai của bà Nguyễn Thị L1 về việc trước đó gia đình bà có mua b p về phơi ngoài sân, sau đó mang vào nhà để cất cho heo, bò, dê ăn dần. Ngoài ra, khi ác định tội danh của bị cáo cũng cần em t nhân thân bị cáo đã từng bị Tòa án kết án về tội “Trộm c p tài sản”. Do đó, khi bị cháu Trần Thị Kim H1 phát hiện, bị cáo ra tay sát hại cháu H1 và ột quần cháu H1 để àm giả hiện trường v án hiếp dâm, nhằm đánh ạc hướng Cơ quan điều tra.

Lời khai nh n tội của bị cáo, cũng như Bản tường trình bị cáo t

viết, ký tên và quá trình th c nghiệm điều tra, bị cáo đã t diễn ại toàn bộ hành vi giết hại cháu Trần Thị Kim H1 đều phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm t thi và kết quả giám định về cơ chế hình thành dấu vết trên thi thể nạn nhân. hù hợp với các v t chứng thu giữ và phù hợp với ời khai của người àm chứng à bà Nguyễn Thị L3 tại các giai đoạn như điều tra, truy tố, t sơ th m và ph c th m ngày 2 tháng 11 năm 200 , bà L3 uôn khẳng định: “Khoảng 14 giờ ngày 18 tháng 01 năm 2006, tôi đi mót cà phê, khi ngang qua cổng nhà anh C1 thì nhìn thấy Tư ng Đăng T đi bộ từ hướng nhà C, M1 đi lên. T tiếp tục đi ra ngoài theo hướng nhà H3, L1. Tôi thấy rõ mặt T, đội mũ tai bèo, thấy T rẽ vào nhà H3, L1. Một lúc sau, tôi nghe thấy tiếng hét to của bé gái. Thế tay kẹp cổ cháu H1 kéo từ hiên nhà ra sau giữa vườn cà phê nhà bà V. T dùng cành cây cà phê đánh vào tay và người cháu H1. Khi cháu H1 ngã xuống, thì T nhặt một hòn đá đập vào đầu cháu H1, sau đó lột quần cháu H1 rồi bỏ chạy theo đường lô cà phê”.

Ngoài ra, ời khai nh n tội ban đầu của bị cáo cũng phù hợp với ời khai

của những người tạm giam cùng với bị cáo (đầu năm 200 ) như các bị can hạm Văn T7, Nguyễn hước L4 và Y hước B1 về việc đã nghe Tư ng Đăng T tâm s về việc T vào nhà người dân để trộm c p, bị con gái chủ nhà phát hiện, sợ bị ộ nên T đã k o cháu b ra vườn cà phê sau nhà, dùng cây, đá đánh chết cháu b , t t quần tạo hiện trường giả v hiếp dâm, rồi về nhà bạn gái gần đó. C thể: Bản t khai ngày 25 và 2 tháng 4 năm 200 của phạm nhân hạm Văn T7 (Buồng giam số 1 – B4 Trại giam Công an t nh Đ) có nội dung “Trong thời gian ở cùng phòng giam với phạm nhân Tư ng Đăng T có kể cho tôi nghe việc phạm nhân Tư ng Đăng T phạm tội giết đứa bé ở gần nhà. Trước Cơ quan Điều tra Tư ng Đăng T đã nhận tội giết người. Trong khi ở phòng khác, một số phạm nhân đã xui T phản cung, nếu cơ quan điều tra gọi làm việc nữa thì đừng nhận. Và T nói chuyện với tôi có Luật sư nào đó tôi không biết tên bảo Thế là không nhận. Sự việc này tôi đã có báo cáo cán bộ quản giáo buồng giam. Trước cán bộ quản giáo T cũng đã nhận. Tang vật mà T giết cháu bé là một hòn đá và khúc cây gỗ cà phê cùng 01 bao tay. T nói với tôi là nếu kiểm tra hung khí không bao giờ có vân tay. Và T nói gia đình T sẽ chạy Luật sư cãi cho T…” (b t c số 100). “T nói phạm tội giết người, dùng cây cà phê đập vào người, dùng đá đập vào đầu bé gái… T nói T biết nhà bé gái này mới bán bắp nên có tiền vì vậy T vào nhà ăn trộm tiền, khi vào nhà lấy tiền thì bị bé gái này phát hiện, T sợ lộ nên đã giết bé gái này… Một số phạm nhân ở phòng 19 bảo T đừng nhận… Luật sư cũng bảo đừng nhận…” (b t c số 103). Lời khai này của hạm Văn T7 phù hợp với ời khai của các phạm nhân khác à Y' hước B3 và Nguyễn hước L4 đã trình bày khi đang bị giam phòng giam khác.

Kết quả th c nghiệm điều tra ại ngày 07 tháng 5 năm 2022 cho thấy việc bà Nguyễn Thị L3 nhìn thấy rõ mặt Tư ng Đăng T đi vào nhà bị hại à hoàn toàn có thể. Lu t sư bào chữa cho bị cáo cho rằng khi th c nghiệm điều tra tại hiện trường cho bà L3 quan sát từ khoảng cách - 7 cây cà phê đến vị trí nơi cháu Trần Thị Kim H1 bị đánh thì bà L3 không nhìn thấy người, nên ời khai của bà L3 à không có cơ s . Tuy nhiên, thời điểm tiến hành th c nghiệm ại này cách thời điểm ảy ra v án rất âu (1 năm) và tại thời điểm th c nghiệm ại, bà L3 đã cao tuổi, m t k m; điều kiện vườn cà phê khi ảy ra v án và thời điểm th c nghiệm điều tra ại cũng khác nhau, vì khi bà L3 đi mót cà phê thì vườn cà phê đã hái ong, cây cối sẽ ơ ác, trống trải và theo bà L3 trình bày thì vị trí cháu H1 nằm gần cây cà phê mới trồng, tán còn thấp nên dễ quan sát. So với vườn cà phê sau này cây cối sum suê, cao, tán rộng, nên tầm nhìn sẽ hạn chế hơn. Ngoài ra, do thời gian đã âu, bà L3 không nhớ được vị trí bà đứng quan sát, mà trong th c tế tại hiện trường v án nếu đứng vị trí này thì thấy còn đứng vị trí khác ại không thấy. Do đó, không thể căn cứ vào kết quả th c nghiệm ại để khẳng định bà Nguyễn Thị L3 không chứng kiến s việc.

Tư ng Đăng T khai ý do trước đây bị cáo nh n tội à do bị Điều tra viên đánh đ p, p cung à không có căn cứ. Vì ngoài các Bản cung không có Kiểm sát viên, Lu t sư tham gia, thì còn có Bản cung ngày 05 tháng 5 năm 200 có Kiểm sát viên và Lu t sư tham gia nhưng Tư ng Đăng T vẫn nh n tội, không kêu oan và bị cáo còn t tay viết Bản t khai ngày 0 tháng 4 năm 200 có nội dung: “… tới khoảng 14 giờ thì tỉnh dậy lúc đó nhà bác C, bác C và Q1 đang ngủ, còn bác M1 đang ngồi giặt đồ, còn H5, H7, H8 không có ở nhà. Lúc đó tôi nghĩ nhà H3 có tiền vì trước đó mấy ngày tôi thấy nhà anh H3 có phơi bắp. Tôi nghĩ anh H3 đã bán chắc cất tiền trong nhà, tôi có ý định tới nhà anh H3 để trộm tiền. Tôi dậy đi qua vòng sân đội rồi đến cổng nhà chị H9 thì thấy 1 bé gái đang ngồi ở sân và tôi đi tới ngõ nhà anh H3 nhìn vào thì thấy cửa mở. Ở dưới gốc nhãn có 5 – 6 cái xe đạp và có mấy con dê đang ăn dâm bụt ở bờ rào và tôi vòng qua phía trái để đi ra sau. Tôi đứng ngoài cửa sau nhìn vào trong không thấy ai. Tôi nghĩ có ai đó ở sau nên tôi quay người lại thì thấy cháu H1 ở dưới gốc cà cách người tôi khoảng 6 mét. Cháu H1 nhìn tôi và nói sao mà chú đi vào nhà cháu bằng cửa sau lén lút như vậy, cháu về cháu mách ba mẹ cháu. Nên tôi nói đừng nói với ba mẹ cháu. Cháu H1 không chịu. Lúc đó tôi đi lại gần cháu H1 và cầm tay cháu H1 thì cháu H1 nói to, tôi sợ người nào nghe tiếng nên tôi lấy tay bóp cổ cháu H1 và lôi ra sau… Lúc tôi bóp cổ cháu H1 một tay tôi cầm tay cháu H1, một tay tôi bóp cổ cháu H1, thời gian bóp cổ khoảng 01 phút thì cháu H1 nằm im. Sau đó một lúc tôi thấy cháu H1 cựa quậy, lúc đó tôi thấy cách người tôi khoảng 6 mét có một cục đá to bằng nửa cái mũ, loại mũ thợ điện hay đội, tôi lại bê cục đá đó đến bên cháu H1 và thả cục đá đó từ độ cao 1 mét vào đầu cháu H1, tôi nghe kêu cái bốp. Tôi thấy máu chảy ra từ đầu cháu H1, sau đó tôi lột quần dài và quần lót của cháu H1 bỏ ra ngoài mục đích là để làm hiện trường hiếp dâm…” (b t c số 77). Bị cáo viết Bản cam kết ngày 0 tháng 4 năm 200 có nội dung “Thời gian trước đây khi làm việc với cán bộ và Luật sư tôi không nhận tội và xuyên tạc tội giết người, lý do tôi xuyên tạc vì sợ quá, sợ bị tử hình… Nay tôi thấy việc làm của tôi đã rõ ràng. Tôi thấy việc xuyên tạc của tôi là vi phạm pháp luật. Tôi mong được các cấp quan tâm và giảm nhẹ hình phạt cho tôi” (b t c số 1 0). Bị cáo viết Bản cam kết ngày 07 tháng 02 năm 200 có nội dung “Qua làm việc với cán bộ, được cán bộ nhắc nhở và giáo dục, tôi không còn xuyên tạc hay phủ nhận hành vi phạm tội của mình. Tôi cam đoan lời khai tự thú của tôi tại Cơ quan điều tra là đúng sự thật, nếu có lời nào gian dối thì tôi hoàn toàn chị trách nhiệm trước pháp luật” (b t c số 1 1). Lời khai ngày 12 tháng 4 năm 200 của Tư ng Đăng T có nội dung “Lời khai ngày 06 tháng 4 năm 2006 là do chính tay tôi viết, không ai đọc cho bị can viết” (b t c số 1). Vì v y, việc bị cáo cho rằng tất cả các ời khai trước đây của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra đều do bị p cung à không có cơ s để chấp nh n. Đồng thời, tại hiện trường th c nghiệm điều tra có rất nhiều người, không có ai mớm p, nhưng bị cáo cũng đã t mình diễn tả ại toàn bộ quá trình bị cáo ngủ nhà bà han Thị M1 cho đến khi ngủ d y đi đến nhà nạn nhân th c hiện hành vi phạm tội và đi về ại nhà bà M1 ngủ tiếp. Lời khai chi tiết ịch trình trong ngày của bị cáo đi đâu, àm gì, gặp gỡ những người nào, cách thức th c hiện hành vi, công c gây án… ch có bị cáo mới biết. Hơn nữa, ời khai nh n tội của bị cáo còn phù hợp với toàn bộ các tài iệu, chứng cứ khác và việc th c nghiệm điều tra cũng phù hợp với ời khai nh n tội của bị cáo, ời khai ác nh n của những người àm chứng; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, với cơ chế hình thành dấu vết để ại trên t thi nạn nhân, với dấu vết, v t chứng để ại tại hiện trường v án.

[4.1. ] Kết quả điều tra ác định cháu Trần Thị Kim H1 bị sát hại trong khoảng thời gian từ 14 giờ đến 14 giờ 30 ph t ngày 1 tháng 01 năm 200 . Tư ng Đăng T cho rằng từ 13 giờ đến 1 giờ, bị cáo ngủ tại nhà bà M1 cùng với ông C và ông Q1, nên không có mặt tại hiện trường v án. Tuy nhiên, ời khai của bà han Thị M1 ác định 03 người ngủ 03 nơi khác nhau, ông C và ông Q1 ngủ hai giường trong phòng, còn bị cáo ngủ giường ngoài phòng khách. Từ 14 giờ đến 14 giờ 30 ph t, bà M1 đang dọn dẹp, r a ch n bát dưới bếp phía sau nhà, không thể quan sát được vị trí bị cáo nằm ngủ; cũng như những người àm chứng khác có mặt tại nhà bà M1 vào ngày 1 tháng 01 năm 200 như ông Q1, bà N4, ông T9 và chị H5 đều không khẳng định trong khoảng thời gian này bị cáo ngủ tại nhà bà M1.

Tiến hành th c nghiệm điều tra toàn bộ quá trình th c hiện tội phạm theo ời khai nh n tội của bị cáo từ c t nh d y, ra khỏi nhà bà M1 đến nhà ông H3, th c hiện hành vi sát hại cháu H1 cho đến c bị cáo quay về nhà bà M1 nằm ngủ tiếp thì hết 20 ph t 10 giây. Với khoảng thời gian này, bị cáo hoàn toàn có khả năng gây án và trong thời gian này không một nhân chứng nào khẳng định bị cáo có mặt nhà bà M1, ông C.

[4.1. ] Ngoài ra, ời khai nh n tội của Tư ng Đăng T còn phù hợp với ời khai của những người àm chứng đã g i e đạp nhà nạn nhân, người àm chứng đi chăn bò qua khu v c nhà nạn nhân và cháu Nguyễn Thị G1 ác định thời điểm ảy ra v án, trước c a nhà nạn nhân có 5 - chiếc e đạp d ng gốc cây (b t c số 1 5, 1 , 244 và 245); phù hợp với ời khai của bà Nguyễn Thị L3 ác định đã tr c tiếp nhìn thấy bị cáo đi vào khu v c trước c a nhà nạn nhân, th c hiện hành vi giết nạn nhân tại khu v c phía sau nhà nạn nhân (b t c số 257, 25 ; 773-776); phù hợp với ời khai của ông Lê Hồng V2 và những người àm chứng gián tiếp khác à người đã nghe bà L3 kể ại s việc nhìn thấy T giết người, đã nghe T tâm s về việc T đã giết người (b t c số 777-780; 1053-1056).

Do đó, việc bị cáo T kêu oan và cho rằng có chứng cứ ngoại phạm à không có cơ s . Một số chi tiết thể hiện ời khai của bị cáo à mâu thuẫn, thiếu trung th c, như: khi hỏi bị cáo với chị H5 (con bà M1) quan hệ như thế nào, thì bị cáo nói “Mới chỉ thích”. Trong khi đó bà M1 và chị H5 ác định thời điểm tháng 01 năm 200 , chị H5 và bị cáo đã có quan hệ tình cảm (yêu đương) đã được hơn 01 năm. Bị cáo cho rằng khi ký vào các Bản cung nh n tội, bị cáo không đọc ại và không ai đọc cho bị cáo nghe. Nhưng khi hỏi bị cáo ai yêu cầu gạch 02 chữ “ 7” trong Bản cung, thì bị cáo nói à bị cáo. Như v y, nếu bị cáo không đọc và không nghe đọc, thì không thể biết được có 02 chữ “ 7” trong Bản cung để yêu cầu gạch bỏ. Hơn nữa, bị cáo ch yêu cầu gạch bỏ 2 chữ “ 7” chứ không yêu cầu gạch bỏ nội dung bị cáo nh n tội. Bị cáo khai chiều tối ngày 1 tháng 01 năm 200 , bị cáo chơi bài với anh Nguyễn Thiện T và một số người khác tại nhà anh Nguyễn Quang T10. Nhưng những người này khẳng định chiều tối hôm đó không chơi bài với bị cáo. Đối chiếu ời khai của bị cáo với ời khai của những người àm chứng tr c tiếp, người àm chứng gián tiếp, những người tiếp c với bị cáo trong ngày gây án à hoàn toàn ogic, phù hợp với hiện trường, với các công c gây án, cơ chế hình thành vết thương trên người nạn nhân.

[4.1. ] Ngoài ra, các ời khai của bị cáo đều phù hợp với diễn biến khách quan của v án, c thể:

Bị cáo khai m c đích đến nhà ông H3, bà L1 trộm c p tài sản, vì trước đó bị cáo thấy ông H3, bà L1 có phơi b p, thì đ ng à trước đó vài ngày và đến ngày 12 tháng 01 năm 200 , gia đình ông H3, bà L1 có phơi b p ngày cuối sau đó mang cất.

Bị cáo khai, bị cáo dùng cành cây cà phê dài khoảng 70 cm to bằng ngón chân cái đánh vào hai mu bàn tay cháu Trần Thị Kim H1 cho đến khi cành cây gãy thành nhiều đoạn. Kết quả có thu giữ tại hiện trường 3 đoạn cành cà phê khi gh p ại trùng khớp với nhau, có độ dài kích cỡ gần đ ng như bị cáo mô tả và trên mu bàn tay của cháu H1 có vết sưng nề do bị đánh như ời khai của bị cáo (nội dung này tại phiên toà xét xử phúc thẩm hôm nay Luật sư cũng đã thừa nhận).

Bị cáo khai dùng đá hình mu rùa thả n m vào đầu cháu H1. Kết quả có thu giữ 01 c c đá như bị cáo trình bày và vết thương trên đầu cháu H1 chính à do c c đá có thể gây nên.

Bị cáo khai dùng tay bóp cổ cháu H1. Kết quả khám nghiệm t thi ác định vùng cổ cháu H1 bị bầm tím, ây át.

Bị cáo khai ột quần tạo hiện trường hiếp dâm. Kết quả khám nghiệm hiện trường đ ng như ời khai của bị cáo à quần cháu H1 bị c i bỏ ra khỏi người cháu H1, nhưng cháu H1 không bị hiếp dâm.

Đối chiếu với ời khai của bà Nguyễn Thị L3, thì bà L3 thấy bị cáo dùng cành cây đánh cháu H1, dùng đá n m vào đầu cháu H1, ột quần vứt ra ngoài. Bà L3 còn mô tả nạn nhân nằm ng a đầu quay về hướng nhà ông H3, thì tất cả đều phù hợp với ời khai của bị cáo. Như v y, nếu bà L3 không có mặt tại hiện trường, thì không thể biết một cách chi tiết đến v y.

Lu t sư bào chữa cho bị cáo cho rằng hiện trường v án áo trộn thì đồ của bị cáo sẽ bị b n. Nhưng qua ời khai của bị cáo, ời khai của bà L3 thể hiện toàn bộ hành vi của bị cáo đều thế chủ động và tư thế đứng nên đồ của bị cáo không nhất thiết bị b n; s d hiện trường v án áo trộn à do bà L1 (mẹ cháu H1) trong c hoảng oạn và quá trình bồng, bế ôi k o cháu H1 đi cấp cứu nên àm cho hiện trường bị áo trộn. Ngoài ra, Lu t sư bào chữa cho bị cáo còn cho rằng đầu tóc nạn nhân bê bết máu và dính đất, á cà phê chứng tỏ tại đây đã ảy ra s v t ộn giữa nạn nhân với hung thủ. Việc nạn nhân nằm dưới đất không có ai bác bỏ và do nằm dưới đất nên có thể đã dính đất, á cà phê; hơn nữa, khi bị cáobê hòn đá (có sẵn trong vườn âu năm) à bê uôn cả đất và á cây bám vào c c đá, nên khi thả vào đầu cháu H1 thì đất, á cây cũng rơi ra khỏi c c đá và bám vào đầu tóc cháu H1 như kết u n của bản án sơ th m à phù hợp.

Sau khi có Quyết định giám đốc th m số 1 2020 HS-GĐT ngày 22 tháng năm 2020 của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C2 đã tiến hành các hoạt động điều tra như hỏi cung bị can, ấy ời khai những người àm chứng, những người iên quan, tiến hành th c nghiệm điều tra, đối chất… để ác minh àm rõ các vấn đề mà Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu. Kết quả điều tra đã củng cố thêm các chứng cứ, àm rõ hơn một số tình tiết, nội dung v án, còn ời khai của những người àm chứng không có gì thay đổi.

Từ những phân tích nêu trên có đủ cơ s kết u n: khoảng 14 giờ ngày 1 tháng 01 năm 200 , Tư ng Đăng T đã đi bộ từ nhà ông Trần Đình C đến nhà ông Trần hi H3 để trộm c p tài sản, nhưng bị cháu Trần Thị Kim H1 phát hiện. Do sợ bị cháu H1 về nói ại với bố, mẹ về việc trộm c p tài sản, nên Tư ng Đăng T đã giết hại cháu H1 sinh ngày 17 tháng 02 năm 1 3 khi cháu H1 chưa đủ 13 tuổi. Bị cáo phạm tội đối với trẻ em và có tính chất côn đồ bị quy định phạt tại các điểm c, n khoản 1 Điều 3 của Bộ u t Hình s năm 1 . Toà án nhân dân t nh Đ k L k kết tội Tư ng Đăng T (tên gọi khác: Thế T1) về tội “Giết người” theo quy định tại các điểm c, n khoản 1 Điều 3 của Bộ u t Hình s năm 1

à đ ng người, đ ng tội và không oan. Mức hình phạt tù chung thân Toà án sơ th m tuyên phạt bị cáo à phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và h u quả do bị cáo gây ra. Từ các căn cứ nêu trên, Hội đồng t ph c th m thấy kháng cáo kêu oan của bị cáo à không có căn cứ, Hội đồng t

ph c th m không chấp nh n.

Các quyết định khác của bản án sơ th m không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng t ph c th m không em t.

[ ] Về án phí HS T: bị cáo Tư ng Đăng T (tên gọi khác: Thế T1) phải chịu theo quy định của pháp u t.

Vì các ẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 35 của Bộ u t Tố t ng hình s . Không chấp nh n kháng cáo của bị cáo Tư ng Đăng T (tên gọi khác: Thế T1). Giữ nguyên Bản án hình s sơ th m số 1 2023 HS-ST ngày 13 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân t nh Đ k L k.

2. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Tư ng Đăng T (tên gọi khác: Thế T1) phạm tội “Giết người”.

3. Về hình phạt: áp d ng điểm c, n khoản 1 Điều 3; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 4 ; điểm e khoản 1 Điều 4 của Bộ u t Hình s năm 1 , phạt bị cáo Tư ng Đăng T tù Chung thân, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 2 tháng 01 năm 200 .

4. Về án phí hình s ph c th m: căn cứ khoản 2 Điều 13 của Bộ u t Tố t ng hình s . Điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 32 201 NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 201 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản ý và s d ng án phí và ệ phí Tòa án bị cáo Tư ng Đăng T (tên gọi khác: Thế T1) phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

5. Các quyết định khác của bản án sơ th m không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu c pháp u t kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. . Bản án ph c th m có hiệu c pháp u t kể từ ngày tuyên án. Thành viên Hội đồng xét xử

Cỡ chữ