- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Bích Thạch- Trần Văn Chính"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Phạm Bích T đối với anh Trần Văn C. Xử cho chị Phạm Bích T được ly hôn đối với anh Trần Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27–05– 2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Lan Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Thành
2. Bà Trương Thị Hồng Phượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhựt, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Châu Ngọc Hạnh- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 59/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 03 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Bích T, sinh năm 1976 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Anh Trần Văn C, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Phạm Bích T trình bày tại đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 12 năm 2023 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án: Chị T và anh C xây dựng hôn nhân với nhau năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, theo giấy chứng nhận kết hôn số 74/2012 ngày 23/5/2012. Quá trình chung sống, chị T và anh C có một người con chung là cháu Trần Thúy A, sinh ngày 01/8/2011. Hiện cháu A đang sống cùng với anh C ấp X, xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu.
Nguyên nhân yêu cầu ly hôn: Sau khi cưới, chị T và anh C sống bên cha mẹ chị T ấp B, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Quá trình chung sống, vợ chồng chị có phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh C có đánh chị; anh C không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu, làm nhiêu chi sài hết không đưa tiền cho chị lo cho gia đình. Vợ chồng chị đã ly thân hơn 02 năm nay. Nay xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu ly hôn với anh C. Về tài sản chung, nợ chung không có nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về con chung, chị T yêu cầu Tòa án xem xét nguyện vọng cháu A, nếu cháu A theo chị T thì chị T nuôi và không yêu cầu anh C cấp dưỡng; nếu cháu A theo anh C thì chị T cũng đồng ý và chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bị đơn anh Trần Văn C không có lời khai trong hồ sơ. Lý do, Tòa án nhiều lần triệu tập anh C đến Tòa án làm việc nhưng anh C không đến; Tòa án đến nhà lấy lời khai nhưng anh C không có nhà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu phát biểu việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh C. Về con chung: Đề nghị hội đồng xét xử giao cháu Trần Thúy A, sinh ngày 01/8/2011 cho anh C tiếp tục chăm sóc, nuôi dạy, giáo dục. Hiện cháu A đang sống cùng anh C. Anh C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung và nợ chung không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình 300.000 đồng. Chị T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0003945 ngày 12/3/2024 được chuyển thu án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng: Ngày 03 tháng 01 năm 2024 chị Phạm Bích T nộp đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu ly hôn, nuôi con với anh Trần Văn C. Anh C có địa chỉ đăng ký thường trú tại ấp B, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, riêng anh C được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh C theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về hôn nhân: Chị T và anh C tự nguyện chung sống vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, theo giấy chứng nhận kết hôn số 74/2012 ngày 23/5/2012 do Ủy ban nhân dân xã H cấp nên hôn nhân giữa chị T và anh C là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
. Chị T xác định trong thời gian chung sống, giữa chị T và anh C thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng ý kiến, thường xuyên gày cải, anh C thường xuyên uống rượu, không lo làm ăn và còn đánh chị. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, chị T và anh C đã ly thân khoảng 02 năm nay. Nay chị T yêu cầu ly hôn với anh C. Phía anh C được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh C không đến Tòa án làm việc nên anh C không có lời khai trong hồ sơ. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai chị T phù hợp với lời khai bà Dương Thị Á là mẹ ruột anh C. Bà Á xác định, quá trình chung sống, chị T và anh C có mâu thuẫn, nguyên nhân anh C ghen chị T với người khác.
Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân tồn tại bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện, vợ chồng phải biết yêu thương, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau xây dựng gia đình phát triển. Hôn nhân giữa chị T và anh C không còn hạnh phúc, quá trình chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn này đã trầm trọng, chị T và anh C đã ly thân gần 02 năm nay. Chị T không còn tình cảm với anh C, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị T yêu cầu được ly hôn với anh C là có căn cứ, phù hợp với quy định Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh C.
. Về con chung: Chị T và anh C chung sống với nhau có 01 người con chung là cháu Trần Thúy A, sinh ngày 01/8/2011.
Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con cho ai nuôi là phải xem xét toàn diện, đầy đủ đảm bảo điều kiện cho con chưa thành niên. Để đảm bảo sự ổn định sinh hoạt, ăn ở, học hành, chăm sóc, nuôi dạy cháu A, do cháu A đang sống cùng anh C nên cần tiếp tục giao cháu A cho anh C tiếp tục nuôi dạy. Điều này phù hợp với nguyện vọng cháu A.
. Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh C không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định chị và anh C chung sống với nhau không có tạo lập tài sản chung và không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình 300.000 đồng. Chị T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0003945 ngày 12/3/2024 được chuyển thu án phí.
[8. Từ những phân tích trên cần chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Phạm Bích T đối với anh Trần Văn C. Xử cho chị Phạm Bích T được ly hôn đối với anh Trần Văn C.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Thúy A, sinh ngày 01/8/2011 cho anh Trần Văn C tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện cháu A đang sống cùng với anh C.
Chị T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Văn C không yêu cầu Phạm Bích T cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
4. Về tài sản chung, về nợ chung: Chị T xác định về tài sản chung và nợ chung không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình 300.000 đồng. Chị T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0003945 ngày 12/3/2024 được chuyển thu án phí.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời gian 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Vĩnh Lợi; - THADS huyện Vĩnh Lợi; - Các đương sự; - Ủy ban nhân dân xã Hưng Thành, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu; - Lưu hồ sơ vụ án. | Nguyễn Thụy Lan Chi |