- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án tranh chấp về HNGĐ giữa Nguyên đơn chị Xa Thị Thu H và bị đơn anh Ngô Đông N"
- Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Xa Thị Thu H và anh Ngô Duy N.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST Ngày 17 tháng 7 năm 2024 V/v: “Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Tú và bà Nguyễn Thị Sâm.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hải Phú - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê - tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 73/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2024/QĐST – HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Xa Thị Thu H, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Khu Đ, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Ngô Duy N, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Khu Đ, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
(Chị H, anh N đều có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1, Tại đơn khởi kiện ngày 27/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Xa Thị Thu H trình bày: Chị và anh Ngô Duy N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19/02/2013 tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn được tự nguyện tìm hiểu. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến tháng 9/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm về lối sống nên không bảo ban được nhau. Từ tháng 9/2023 cho đến nay, chị đã về nhà bố mẹ đẻ chị ở khu Đ, xã T ở, vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ đó, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay xác định tình cảm không còn nên chị H làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N.
Về con chung: Chị và anh N có 02 con chung là Ngô Duy Bảo L, sinh ngày 09/9/2013 và Ngô Bảo Y, sinh ngày 19/01/2016. Hiện nay hai con chung đang ở cùng chị. Khi ly hôn chị xin được được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con chung, chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị làm giáo viên tại Trường tiểu học P1, chị có thời gian để chăm con và có thu nhập hàng tháng khoảng 10.000.000đ, chị ở cùng nhà bố mẹ đẻ là bà Lê Thị Minh T, mẹ chị có nhà cửa đất đai ổn định. Vì vậy, chị đề nghị giao cả hai con chung cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị H không yêu cầu giải quyết.
2, P bị đơn anh Ngô Duy N: Tại bản tự khai ngày 20/6/2024 và tại phiên tòa anh N trình bày: Anh và chị Xa Thị Thu H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19/02/2013 tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn được tự nguyện tìm hiểu. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến tháng 9/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên chung sống không hạnh phúc. Từ tháng 9/2023 chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở khu Đ, xã T ở, vợ chồng sống ly thân từ đó, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị H xin ly hôn, anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh nhất trí ly hôn với chị H.
Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là Ngô Duy Bảo L, sinh ngày 09/9/2013 và Ngô Bảo Y, sinh ngày 19/01/2016. Nhà anh và nhà chị H ở gần nhau, cách nhau khoảng 300m nên các con chung của anh chị lúc thì ở cùng chị H, lúc thì ở nhà anh. Khi ly hôn anh xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L và nhất trí giao cháu Y cho chị H được nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào. Hiện nay anh làm lao động tự do thu nhập từ 8.000.000đ đến 10.000.000đ đủ điều kiện để nuôi con. Ngoài ra khi anh đi làm còn có sự giúp đỡ của mẹ đẻ anh là bà Đặng Thị S giúp anh trong việc chăm sóc con. Anh ở cùng mẹ anh, mẹ anh có đất đai nhà cửa ổn định đủ điều kiện để nuôi cháu L. Vì vậy, anh đề nghị Tòa án giao cháu L cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản chung; Nghĩa vụ chung về tài sản; Công sức: Anh N không yêu cầu giải quyết.
3, Nguyện vọng của cháu Ngô Duy Bảo L và cháu Ngô Bảo Y: Tại bản tự khai ngày 06/6/2024 cháu L, cháu Y đề nghị nếu bố mẹ cháu ly hôn thì nguyện vọng của các cháu xin được ở với mẹ.
4, Tại bản tự khai ngày 14/3/2020 bà Đặng Thị S (mẹ đẻ anh N) trình bày: Anh N và chị H đăng ký kết hôn năm 2013. Anh chị chung sống cùng nhau hạnh phúc và sinh được hai người con là Ngô Duy Bảo L, sinh ngày 09/9/2013 và Ngô Bảo Y, sinh ngày 19/01/2016. Trong một năm qua anh chị xảy ra mâu thuẫn dẫn đến chị H xin ly hôn. Khi anh chị nói là ly hôn bà đã không đồng ý nên đã tổ chức họp gia đình để động viên anh chị bỏ qua mâu thuẫn tiếp tục chung sống với nhau để nuôi dạy con cái nhưng chị H dứt khoát không nghe, tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Nay chị H xin ly hôn anh N bà đề nghị Tòa án giải quyết cho anh N được nuôi dưỡng chăm sóc cháu L. Anh nhu làm lao động tự do có thu nhập đủ điều kiện để nuôi con, gia đình bà có nhà cửa đất đai ổn định. Còn việc ly hôn của anh chị bà không can thiệp.
5, Qua x¸c minh t¹i ñy ban nh©n d©n x· Tam Sơn ngµy 11/3/2024 được đại diện chính quyền địa phương cung cấp: Chị H và anh N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19/02/2013 tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn anh chị được tự nguyện tìm hiểu, sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị tự mâu thuẫn với nhau trong cuộc sống vợ chồng. Từ tháng 9/2023 chị H đã về nhà bố mẹ chị H ở khu Đ, xã T ở, khi anh chị mâu thuẫn gia đình hai bên cũng đã khuyên giải nhiều lần nhưng không được, chị H không quay về chung sống cùng anh N nữa. Chị H và anh N có hai con chung là Ngô Duy Bảo L, sinh ngày 09/9/2013 và Ngô Bảo Y, sinh ngày 19/01/2016. Nay chị H xin ly hôn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
T¹i phiªn toµ kiÓm s¸t viªn ph¸t biÓu ý kiÕn vÒ viÖc tu©n theo ph¸p luËt trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vô ¸n cña ThÈm ph¸n, H§XX vµ viÖc chÊp hµnh ph¸p luËt của nguyên đơn tõ khi thô lý vô ¸n cho ®Õn trước thêi ®iÓm H§XX nghÞ ¸n ®Òu thùc hiÖn ®óng theo quy ®Þnh ph¸p luËt kh«ng cã vi ph¹m g×, bị đơn vi phạm về nghĩa vụ quy đinh tại khoản 15, 16 Điều 70, Điều 72 Bé luËt tè tông d©n sù vµ ph¸t biÓu ý kiÕn vÒ quan ®iÓm gi¶i quyÕt vô ¸n. Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; kho¶n 4 ®iÒu 147 Bé luËt tè tông d©n sù; Điểm a khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Xa Thị Thu H và anh Ngô Duy N.
Về con chung: Giao con chung chưa thành niên lµ Ngô Duy Bảo L, sinh ngày 09/9/2013 cho anh Ngô Duy N được trùc tiÕp trông nom, ch¨m sãc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi cháu L thành niên (đủ 18 tuổi). Giao con chung chưa thành niên lµ Ngô Bảo Y, sinh ngày 19/01/2016 cho chị Xa Thị Thu H được trùc tiÕp trông nom, ch¨m sãc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi cháu Y thành niên (đủ 18 tuổi). Chị H, anh N không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Chị H, anh N ®ưîc quyÒn ®i l¹i th¨m nom con chung, kh«ng ai ®ưîc ng¨n cÊm c¶n trë.
Về tài sản chung; Nghĩa vụ chung về tài sản; Công sức: Chị H, anh N không yêu cầu giải quyết nên kh«ng xem xÐt.
Về án phí: Chị Xa Thị Thu H phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) ¸n phÝ ly hôn sơ thẩm.
Anh Ngô Duy N phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng dân sự:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1, điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn anh Ngô Duy N có hộ khẩu thường trú tại khu Đ, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ điểm a, khoản 1, điều 35; điểm a, khoản 1, điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
. Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị H và anh N là hoàn toàn hợp pháp được UBND xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ cho ®¨ng ký kÕt h«n ngày 19/02/2013 nhưng thùc sù t×nh c¶m vî chång gi÷a anh chÞ ®· cã vÕt r¹n nøt, chÞ H anh N đều xác nhận sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến tháng 9/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm về lối sống nên không bảo ban được nhau. Từ tháng 9/2023 cho đến nay, chị H đã về nhà bố mẹ đẻ chị ở khu Đ, xã T ở, vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ đó, không ai còn quan tâm đến ai. Nay xác định tình cảm không còn nên chị H làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, anh N đồng ý. XÐt thÊy cuéc h«n nh©n gi÷a chị H vµ anh N đã m©u thuÉn rÊt trÇm träng, ®êi sèng chung kh«ng còn, môc ®Ých h«n nh©n kh«ng ®¹t ® îc. Chị H xin ly h«n, anh N nhÊt trÝ thuận tình ly h«n. V× vËy, cÇn xö c«ng nhËn thuËn t×nh ly h«n gi÷a chÞ H vµ anh N lµ hoµn toµn phï hîp víi §iÒu 55 LuËt H«n nh©n vµ gia ®×nh.
Về con chung: Chị H vµ anh N cã 02 con chung làNgô Duy Bảo L, sinh ngày 09/9/2013 và Ngô Bảo Y, sinh ngày 19/01/2016. Khi ly hôn chị H xin được được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung. Phía anh N đề nghị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu L và nhất trí giao cháu Y cho chị H được nuôi dưỡng. Không nên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào. Xét yêu cầu về nguyện vọng xin được nuôi con của anh chị là chính đáng nhưng việc giao con cho ai ph¶i c¨n cø vµo ®iÒu kiÖn ®Ó nu«i d¹y con c¸i trưëng thµnh. Chị H, anh N có hai con chung, anh chị đều có công việc, có thu nhập, đều có sự chăm sóc giúp đỡ của gia đình hai bên. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự cần giao cháu L cho anh N được nuôi dưỡng và giao cháu Y cho chị H được nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào là phù hợp.
. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị H, anh N không yêu cầu giải quyết nªn Hội đồng xét xử kh«ng xem xÐt.
. Về án phí: Chị H, anh N mỗi người phải chịu 75.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1, điều 35; điểm a, khoản 1, điều 39; kho¶n 4 ®iÒu 147 Bé luËt tè tông d©n sù; Điểm a khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Xa Thị Thu H và anh Ngô Duy N.
[2]. Về con chung: Giao con chung chưa thành niên lµ Ngô Duy Bảo L, sinh ngày 09/9/2013 cho anh Ngô Duy N được trùc tiÕp trông nom, ch¨m sãc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi cháu L thành niên (đủ 18 tuổi). Giao con chung chưa thành niên lµ Ngô Bảo Y, sinh ngày 19/01/2016 cho chị Xa Thị Thu H được trùc tiÕp trông nom, ch¨m sãc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi cháu Y thành niên (đủ 18 tuổi). Chị H, anh N không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Chị H, anh N ®ưîc quyÒn ®i l¹i th¨m nom con chung, kh«ng ai ®ưîc ng¨n cÊm c¶n trë.
[3]. Về tài sản chung; Nghĩa vụ chung về tài sản; Công sức: Chị H, anh N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử kh«ng xem xÐt.
[4]. Về án phí: Chị Xa Thị Thu H phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) ¸n phÝ ly hôn sơ thẩm. X¸c nhËn chị H ®· nép 300.000 ®ång tiÒn t¹m øng ¸n phÝ theo biªn lai sè 0004780 ngày 08/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Trả lại cho chị H 225.000đ (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Anh Ngô Duy N phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[5]. Về quyền kháng cáo: Trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n, c¸c ® ¬ng sù cã mÆt ® îc quyÒn kh¸ng c¸o ®Ó yªu cÇu toµ ¸n nh©n d©n tØnh Phó Thä xÐt xö phóc thÈm./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện; - Các đương sự - UBND xã T; - Thi hành án dân sự; - Lưu HS+ VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đinh Thị Thu Huyền |