vanban.org

Bản án 37/2024/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; anh Nguyễn Xuân T phải nộp 300.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Các đương sự: 03 bản; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Tình Thon"
  • Tòa quyết gì? Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; anh Nguyễn Xuân T phải nộp 300.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THỦY
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25- 4- 2024
V/v: Tranh chấp xác định con cho cha

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Hùng Hạnh;

Ông Đỗ Văn Cận.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 50/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp xác định con cho cha” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 2001; địa chỉ: Xóm H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.

- Bị đơn: Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1996; địa chỉ: Xóm M, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Văn Đ, sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm D, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Toà án, nguyên đơn anh Nguyễn Xuân T trình bày: Anh và chị Phạm Thị T1 có quan hệ tình cảm với nhau trong thời gian chị T1 và anh Vũ Văn Đ là vợ chồng nhưng đang sống ly thân, quan hệ tình dục và sinh được cháu Phạm Nguyễn Thiên P, sinh ngày 02- 12- 2023. Kết quả xét nghiệm AND số 5242H/2024 ngày 16- 02- 2024 của Công ty TNHH C xác định: Cháu P và anh T có quan hệ huyết thống cha con. Nay anh Nguyễn Xuân T yêu cầu Tòa án xác định cháu Phạm Nguyễn Thiên P là con đẻ của anh.

Tại Bản tự khai và các lời khai tại Tòa án, bị đơn là chị Phạm Thị T1 trình bày: Năm 2014 chị T1 kết hôn với anh Vũ Văn Đ, hai bên có mâu thuẫn và sống ly thân từ năm 2019. Đến ngày 22- 6- 2023, tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại Tòa án số 12/2023/QĐCNTTLH, Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị T1 và anh Vũ Văn Đ. Trong thời gian sống ly thân, chị có quan hệ tình dục với anh Nguyễn Xuân T và ngày 02- 12-2023 sinh ra cháu Phạm Nguyễn Thiên P. Nay chị nhất trí về việc anh T đề nghị Tòa án xác định cháu Phạm Nguyễn Thiên P là con đẻ của anh T.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Văn Đ: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã giao, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Vũ Văn Đ nhưng anh Đ không đến Tòa án để làm việc và không trình bày quan điểm.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng cũng như các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 89 của Luật Hôn nhân và gia đình, xác định cháu Phạm Nguyễn Thiên P là con đẻ của anh Nguyễn Xuân T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn là anh Nguyễn Xuân T và bị đơn là chị Phạm Thị T1 có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Văn Đ được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, căn cứ vào Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.

Anh Nguyễn Xuân T có quan hệ tình dục với chị Phạm Thị T1, chị T1 mang thai và sinh ra cháu Phạm Nguyễn Thiên P vào ngày 02- 12- 2023. Kết quả xét nghiệm AND số 5242H/2024 ngày 16- 02- 2024 của Công ty TNHH C xác định: Cháu Phạm Nguyễn Thiên P và anh Nguyễn Xuân T có quan hệ huyết thống cha con. Anh T và chị T1 đều thừa nhận các tình tiết đã nêu, anh Đ không có ý kiến phản đối. Vì vậy, yêu cầu xác định cháu P là con của anh T có đủ cơ sở chấp nhận và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 89 và khoản 2 Điều 101 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về án phí: Anh Nguyễn Xuân T nhận nộp án phí dân sự sơ thẩm, sự tự nguyện này không trái quy định pháp luật nên được chấp nhận.

[4] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 89 và khoản 2 Điều 101 của Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Xuân T; xác định cháu Phạm Nguyễn Thiên P, sinh ngày 02- 12- 2023 là con đẻ của anh Nguyễn Xuân T.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; anh Nguyễn Xuân T phải nộp 300.000 đồng án phí được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0004511 ngày 07- 3- 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy. Anh Nguyễn Xuân T đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ